Ngày
18/6/2012, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 21/2012/TT-NHNN quy
định về hoạt động cho vay, đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá
giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh nước ngoài.
Những
bất ổn trên thị trường liên ngân hàng điển hình như trong kỳ căng thẳng
quý 4/2011 là một trong những yêu cho việc xây dựng và ra đời thông tư
này. Nhưng thay vì xử lý ở gốc, một lát cắt được đưa ra, thị trường sẽ
bị tổn thương.
Gọt bớt lợi nhuận ngân hàngTheo
Thông tư 21/2012/TT-NHNN, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài không được gửi tiền, nhận tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán)
tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác.
Đó
cũng là quy định quan trọng nhất của Thông tư 21, tiền gửi liên ngân
hàng được xác định lại thành tiền vay liên ngân hàng. Những ngân hàng
trước nay đi gửi sẽ chuyển thành người cho vay và buộc phải trích lập dự
phòng rủi ro.
Hiện
chưa rõ việc trích lập phải thực hiện như thế nào. Cơ chế phân loại nợ
và trích lập dự phòng vẫn đang theo Quyết định 493, song quyết định này
lại không quy định các khoản vay liên ngân hàng.
Từ
năm 2010 và kéo dài cho đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã nhiều lần tổ
chức góp ý và hoàn thiện một dự thảo thay thế Quyết định 493. Có thể
ngay sau Thông tư 21, dự thảo đó sẽ được hoàn thành và ban hành, để tạo
sự đồng bộ (Thông tư 21 có hiệu lực từ 1/9/2012).
Dù
thế nào, việc phải trích lập dự phòng đồng nghĩa với việc các ngân hàng
thương mại phải gia tăng chi phí. Trích lập không có nghĩa bị mất đi,
nhưng lợi nhuận sẽ bị gọt bớt.
Giả
sử tại thời điểm 31/12/2011 quy định trên đã được áp dụng, chắc chắn
lợi nhuận của nhiều ngân hàng thương mại đã bị ảnh hưởng đáng kể. Dễ tìm
thấy tại báo cáo tài chính là những ghi chú cho những món nợ đồng lần
trên liên ngân hàng, quy mô lớn. Nếu phải trích lập tương tự như quy
định tại Quyết định 493, lợi nhuận của những trường hợp đó có thể giảm
đi từ vài chục đến cả trăm tỷ đồng; một số trường hợp, có những khoản
đến tận cuối quý 1/2012 vẫn chưa thể thu hồi, đồng nghĩa với tỷ lệ phải
trích lập dự phòng tăng theo cấp số nhân…
Ngoài
quy định trên, Thông tư 21 cũng có một điểm mà “tác động phụ” liên quan
đến lợi nhuận của các thành viên tham gia thị trường này.
Thông
tư quy định các thành viên được thỏa thuận lãi suất các khoản vay,
nhưng trong trường hợp có diễn biến bất thường Ngân hàng Nhà nước sẽ quy
định lãi suất cho vay liên ngân hàng để các thành viên thực hiện.
Mục
đích chính của quy định này là tạo cho Ngân hàng Nhà nước một công cụ
để can thiệp kịp thời khi thị trường có xáo trộn, ngăn chặn các đợt leo
thang của lãi suất như trong quá khứ. Ít nhất, công cụ này nó tạo được
một rào cản bình ổn về hình thức, còn bản chất của các xáo trộn cần giải
quyết ở các vấn đề khác.
“Tác
động phụ” của nó là treo một giới hạn vô hình đối với lợi nhuận các
ngân hàng cho vay. Thị trường liên ngân hàng đã quá quen với những mức
lãi suất “chặt chém” 25%/năm, 27%/năm thậm chí có thời điểm treo tới
khoảng 40%/năm… Bên cạnh cái tiếng con thoi hỗ trợ thanh khoản thị
trường, những mức lãi suất khủng đó mang lại lợi nhuận lớn cho những
thành viên dư giả vốn khi thanh khoản hệ thống khó khăn. Nay, Thông tư
21 đã đưa ra một tín hiệu có thể ngăn chặn.
Niềm tin bị tổn thươngQuý
4/2011, thị trường liên ngân hàng xuất hiện tình trạng các ngân hàng
giao dịch vốn với nhau áp cơ chế phải thế chấp, có tài sản đảm bảo.
Không khí thị trường trở nên ngột ngạt và vấn đề thanh khoản càng trở
nên căng thẳng.
Đặc
tính của thị trường liên ngân hàng hàng chục năm qua là niềm tin. Chính
đặc tính này giúp các giao dịch thông suốt, kịp thời đáp ứng nhu cầu
vốn nóng, đúng như vai trò của nó. Khi cơ chế trên xuất hiện, niềm tin
thị trường bị tổn thương. Nó phát đi một thông điệp xấu: ngay cả các
ngân hàng còn không tin tưởng lẫn nhau, thì sự nghi ngờ, dè chừng của
người gửi tiền đối với ngân hàng là dễ hiểu.
Dĩ
nhiên, áp cơ chế đó, bên tiếp vốn có cái lý của họ. Tôi bỏ vốn ra, phải
an toàn, phải có thế chấp và tài sản đảm bảo khi môi trường xấu đi.
Nay,
với Thông tư 21, Ngân hàng Nhà nước chính thức lái hoạt động gửi tiền
trên liên ngân hàng sang cho vay, đồng nghĩa với việc “ủng hộ” cho cơ
chế phát sinh đó. Tất nhiên, trong giao dịch giữa các thành viên, phải
thế chấp tài sản hay không vẫn do hai bên thỏa thuận.
Và
thay vì củng cố và phát triển một thị trường liên ngân hàng có môi
trường tin cậy cao, phát huy giá trị niềm tin đã có từ trước tới nay,
nhà điều hành đã tạo một sự thay đổi căn bản.
Niềm
tin, trừu tượng, nhưng giá trị rất lớn. Bản thân các ngân hàng vẫn cho
vay bằng tín chấp đó thôi. Hay đặt ra một tình huống ngược, theo “mạch”
xác định lại tiền gửi thành tiền vay nói trên của Thông tư 21, rằng:
người dân đang gửi tiền ở ngân hàng với cơ sở là niềm tin, nay xét ngược
lại là họ cho ngân hàng vay, có tình huống họ cần được yêu cầu có tài
sản đảm bảo thay vì mức chi trả nhất định của bảo hiểm tiền gửi nếu có
rủi ro?
Bản
giới thiệu về Thông tư 21 của Ngân hàng Nhà nước viết rằng, thông tư này
sẽ tạo bước phát triển cho thị trường liên ngân hàng, đáp ứng kịp yêu
cầu phát triển của thị trường trên cơ sở công khai, minh bạch và an
toàn. Nhưng nhìn lại, cái gốc an toàn trong giao dịch trên liên ngân
hàng hay an toàn cho hệ thống là ở vấn đề thanh khoản, chứ không nằm ở
cơ chế giao dịch hay xác định lại nguồn vốn.
Trong
khi đó, việc xác định lại như vậy, đặc biệt là gắn với cơ chế phải
trích lập dự phòng rủi ro, sẽ tạo thêm một yếu tố hạn chế dòng chảy trên
liên ngân hàng, đáng lẽ phải được khơi thông hơn nữa.
Theo Minh Đức
Vneconomy