Nội dung "tăng vốn điều lệ" xuất hiện trong tờ trình Đại hội cổ đông
thường niên năm 2012 của hầu hết các ngân hàng. NamA Bank tăng vốn từ
3.000 tỷ lên 3.700 tỷ, Ngân hàng Phương Đông tăng từ 3.234 lên 4.000 tỷ
trong khi kế hoạch của VietAbank và ABBank cùng lên 5.000 tỷ đồng.
DongA Bank mặc dù vừa hoàn thành đợt tăng vốn lên 5.000 tỷ nhưng dự
kiến vẫn phát hành 1.000 tỷ vốn điều lệ cho cổ đông hiện hữu để tăng
lên 6.000 tỷ vào quý II.
Theo nhìn nhận của các chuyên gia trong
lĩnh vực ngân hàng, việc tăng vốn của họ là đáng hoan nghênh và khích
lệ. Nguyên nhân khiến các nhà băng gấp rút muốn tăng vốn trong năm nay
là để củng cố nội lực, mở rộng khả năng cho vay. Với các ngân hàng,
đồng vốn tự có càng lớn thì khả năng huy động, hạn mức tín dụng cho vay
được cấp càng cao. Do đó, các ngân hàng nhỏ luôn tìm mọi cách để tăng
vốn điều lệ.
Không riêng ngân hàng nhỏ, các nhà băng lớn cũng
muốn tăng vốn. Ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Sài Gòn
Thương Tín (Sacombank), cho biết năm 2012 sẽ tăng thêm 17% vốn điều lệ
(khoảng 1.700 tỷ đồng) để nâng vốn điều lệ từ 10.047 tỷ lên hơn 11.700
tỷ đồng. Ngân hàng Á Châu (ACB) cũng vừa thông qua tăng vốn lên từ
9.377 tỷ đồng lên 12.377 tỷ đồng từ lợi nhuận chưa phân phối, quỹ dự
trữ bổ sung vốn điều lệ và từ việc chào bán cổ phiếu ra công chúng.
Tăng
vốn điều lệ là cách để các nhà băng củng cố nội lực trong bối cảnh làn
sóng thâu tóm, sáp nhập có thể đang ập đến. Ảnh minh họa: Hoàng Hà.
Tăng
vốn điều lệ là cách để các nhà băng củng cố nội lực trong bối cảnh làn
sóng thâu tóm, sáp nhập có thể đang ập đến. Ảnh minh họa: Hoàng Hà.
Tuy
nhiên, theo nhiều chuyên gia, việc muốn nâng vốn có thể xuất phát từ nợ
xấu quá cao và nguy cơ bị thâu tóm, sáp nhập. Chuyên gia Nguyễn Trí
Hiếu cho biết, với nhiều ngân hàng yếu, khi nợ xấu nguy kịch và khả
năng bị mất vốn cao, họ sẽ càng muốn tăng vốn. Có thể trên sổ sách chưa
thể hiện điều này nhưng các ngân hàng yếu hiểu rất rõ nợ xấu đang "ăn"
vào vốn chủ như thế nào.
Một chuyên gia chứng khoán cho rằng,
khi làn sóng M&A (mua bán, sáp nhập) diễn ra mạnh mẽ, bản thân các
ông chủ ngân hàng, đặc biệt những ngân hàng niêm yết cũng nhìn thấy
nguy cơ bị thâu tóm. Tăng vốn sẽ là một cách để chống đỡ. Tuy nhiên,
ông này nhấn mạnh: "Không riêng ngân hàng nhỏ, có nguy cơ bị thâu tóm
cần tăng vốn mà cả bên đi thâu tóm cũng cần vốn "khỏe" để có thế mạnh
khi tham gia đàm phán".
Thông thường, các ngân hàng tăng vốn
bằng cách phát hành thêm cổ phiếu hoặc chia cổ tức bằng cổ phiếu. Nhưng
trong năm 2012, tình hình kinh tế khó khăn cộng thêm sự lình xình của
thị trường chứng khoán, rất khó để thuyết phục cổ đông hiện hữu mua
thêm cổ phiếu hay chào bán ra công chúng thành công. Nhiều nhà băng đã
có kế hoạch tăng vốn từ năm ngoái nhưng vẫn chưa hoàn thành và phải gác
sang năm nay vì lý do này.
Từng có kinh nghiệm trong lĩnh vực
ngân hàng tại Mỹ, ông Nguyễn Trí Hiếu nhìn thấy khả năng sinh lời của
những đồng vốn điều lệ tăng thêm trong bối cảnh này là thấp. "Ôm nhiều
vốn đồng nghĩa với những áp lực lớn về lợi nhuận từ cổ đông và nhà đầu
tư. Trong khi đó, việc cho vay những doanh nghiệp tốt, có khả năng chi
trả cho ngân hàng hiện không có nhiều", vị này phân tích.
Đua
tăng vốn điều lệ cũng là tình trạng xảy ra nhiều năm trước. Tuy nhiên,
lãnh đạo các ngân hàng thừa nhận vốn sở hữu càng nhiều thì càng phải
chịu áp lực lớn từ cổ đông. Theo một chuyên gia, vì áp lực đó mà những
năm trước các ngân hàng dễ dàng nâng vốn nhưng cũng dễ dàng dùng đồng
vốn đó cho vay vì áp lực lợi nhuận và hậu quả là tăng trưởng nóng, nợ
xấu cao. "Ngoài tăng vốn, ngân hàng cần phải có một chiến lược sử dụng
đồng vốn mới. Không có chiến lược đi kèm, ngân hàng rất dễ cho vay tràn
lan hoặc kinh doanh mạo hiểm", chuyên gia này cảnh báo.
Theo Thanh Thanh Lan
Vnexpress