Hàng loạt vụ án tại các CTCK đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn, từ những CTCK nhỏ ít danh tiếng như Đại Nam, cỡ trung như SME cho đến CTCK đã từng nằm trong top 5 là SBS.
Câu hỏi đặt ra là với hàng ngàn tỉ đồng có liên quan, liệu chỉ riêng một vài lãnh đạo của CTCK có thể dễ dàng thực hiện được?
Margin: Mấu chốt vấn đề
Các
giao dịch bị khởi tố hình sự có bản chất tương đối giống nhau: Có dấu
hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của NĐT và đối tác. Các câu chuyện khởi
nguồn từ năm 2010, thời điểm thăng hoa của các hoạt động cho vay tiền
đầu tư CK (margin).
Trong
khi pháp luật cấm thì khi đó hầu như CTCK nào có nghiệp vụ môi giới đều
thực hiện dịch vụ này vì nếu không thì... NĐT sẽ chuyển sang CTCK khác.
“Doanh thu khác” – loại doanh thu về bản chất chủ yếu đến từ dịch vụ
margin – chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu doanh thu của các CTCK từ lớn
đến nhỏ: HSC có gần 50% là “doanh thu khác”, SSI có hơn 30% là “doanh
thu khác”.
CTCK
đã lấy tiền ở đâu để làm dịch vụ margin? Với quy mô giao dịch hàng ngàn
tỉ đồng/phiên tại thời điểm thị trường nóng giai đoạn năm 2010 và tỉ lệ
margin lên tới 80% hay 100% thì không CTCK nào có đủ VĐL để hỗ trợ NĐT.
Đứng danh nghĩa CTCK ra vay thì cũng rất khó, vì nếu vay thì đâu là tài
sản đảm bảo? Nếu CTCK không được phép cho vay CK thì cũng không thể
dùng CK của NĐT để đi thế chấp cho các TCTD.
Như
vậy, cách nhanh và thông dụng nhất là CTCK dùng các tài khoản hay pháp
nhân bên ngoài, đa phần là tài khoản và pháp nhân “ảo” để lách luật. Đây
chính là điểm mấu chốt của các vụ án kiện cáo, khởi tố diễn ra gần đây!
Cho
vay trong lĩnh vực CK cũng không khác các lĩnh vực khác, đều phải tuân
thủ các nguyên tắc thẩm định tín dụng chặt chẽ. Phần quan trọng đối với
các khoản vay luôn là tài sản đảm bảo và việc sử dụng nguồn vốn một cách
đúng mục đích.
Trong
trường hợp của SME, “bị hại” là CTCP Bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVI)
giải trình trong tài liệu điều tra ban đầu rằng Cty đã bị lừa chuyển
tiền cho SME qua 2 hợp đồng với 2 trung gian: 1 cá nhân là Hoàng Ngọc
Anh và một Cty là CTCP Tư vấn Anh: “Triển khai hợp đồng, Cty PVI đã
chuyển cho Cty SME hơn 100 tỉ đồng. Tuy nhiên sau này, Cty PVI mới biết
được sự thật: Họ đã bị rơi vào “bẫy” do CTCK SME dựng lên. Cá nhân mang
tên Hoàng Ngọc Anh không hề đầu tư CK. Chữ ký “Hoàng Ngọc Anh” trên các
giấy tờ với Cty PVI đều là giả mạo. Còn CTCP Tư vấn Anh là thành viên
của CTCK SME. Hợp đồng giữa Cty Tư vấn Anh với Cty PVI đều do lãnh đạo
SME đạo diễn” (theo Báo An Ninh Thủ Đô).
Tại sao một tập đoàn lớn như PVI lại
có thể để đối tác lừa dùng chữ ký giả trừ khi quá trình ký hợp đồng
lỏng lẻo, không có sự xuất hiện của cả hai bên và có sự chứng kiến của
bên thứ 3? Việc CTCP Tư vấn Anh là thành viên của CTCK SME đều được công
khai và thậm chí một NĐT cá nhân cũng biết được thông tin này, nên cũng
khó hiểu nếu PVI không nắm được thông tin này.
Còn
việc người vay tiền sử dụng sai mục đích cũng khó có thể trách được một
phía, vì đơn giản đây là quy trình kiểm soát rủi ro bắt buộc phải có,
nhất là đối với một tập đoàn lớn như PVI.
Trong
khi chờ cơ quan điều tra xác minh rõ sự thật không chỉ riêng trường hợp
của SME, mà còn của nhiều CTCK khác thì thật khó tin vào sự “ngây thơ”,
“cả tin” của các đối tác. Vào thời điểm năm 2010, CTCK chủ yếu vay tiền
để cho vay margin và tự doanh nên các đối tác, nhất là trong cùng lĩnh
vực tài chính, chắc chắn nắm rất rõ. Vậy liệu có phải vì động cơ chia sẻ
lợi nhuận, không phải kinh doanh vất vả, chỉ chuyển cho các đối tác cho
vay lấy phần chênh lệch cũng có mức lợi nhuận rất cao nên tất cả đã lao
vào cuộc chơi đầy mạo hiểm?
Vai trò của cơ quan giám sát?
Khi
thị trường margin thậm chí được quảng cáo công khai như một cách thu
hút NĐT của các CTCK thì khó có thể nói cơ quan chức năng không biết hay
không nắm được tình hình. Cũng có không ít lời cảnh báo công khai trên
các phương tiện thông đại chúng về những rủi ro tiềm tàng của hoạt động
margin khi mà tất cả người trong cuộc còn đang say với nghiệp vụ này.
Tuy
nhiên, đáng buồn là margin chỉ được hợp pháp hóa năm 2011 sau khi “việc
đã rồi”, tức là khi các CTCK đều đã dính chàm với hàng ngàn tỉ đồng và
NĐT cũng bắt đầu ít mặn mà hơn.
Vai
trò của cơ quan giám sát thể hiện hai lỗ hổng nghiêm trọng đó là (i)
Biết nhưng không có những hành động ngăn chặn kịp thời, để những vi phạm
tăng lên với quy mô ngày càng lớn; (ii) Khung pháp lý còn mang tính bị
động, mang tính chữa bệnh hơn phòng bệnh. Những lỗ hổng này sẽ để xảy ra
hậu quả gì khi mà thị trường vẫn ngày càng phức tạp?
Còn bao nhiêu CTCK có nguy cơ bị khởi tố?
Năm
2010, số CTCK là trên 100 và có không dưới 70% các Cty thực hiện nghiệp
vụ môi giới, tham gia vào việc cho vay margin. Việc CTCK lao dốc đã ảnh
hưởng tới gần như tất cả các thành viên của thị trường.
Khi mà các CTCK vẫn không thể bù đắp tổn thất cho các đối tác thì Đại Nam, SME hay SBS cũng sẽ chỉ là phát súng khởi đầu cho các vụ kiện cáo và các tên tuổi bị điều tra.
Theo Lao động