Chủ đề được đưa ra là “Tái cấu trúc doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam”.
Tái cấu trúc doanh nghiệp là quá trình tất yếu, nhưng không có một
phương án chung cho tất cả doanh nghiệp. Tùy thuộc vào môi trường kinh
doanh cũng như đặc thù riêng, mỗi doanh nghiệp sẽ nhận diện những bộ
phận cần tái cấu trúc và là mục tiêu chính cần phải thay đổi, có thể là
vấn đề liên quan tới tài chính, hoặc nhân sự hay cơ cấu tổ chức.
Cụ thể, với việc đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
trong thời gian tới, bên cạnh những lợi ích dài hạn nhiều mặt tới môi
trường kinh doanh, phải nhận diện trong ngắn hạn thị trường chứng khoán
sẽ gặp lực cản để hồi phục.
Bởi lẽ khi tái cấu trúc buộc DNNN tăng cường thoái vốn khỏi các khoản
đầu tư ngoài ngành, bao gồm các khoản đầu tư vào các công ty cổ phần đã
niêm yết hoặc chưa niêm yết. Điều này có thể làm tăng áp lực bán cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán.
Bên cạnh đó, việc tái cấu trúc DNNN, bao gồm cổ phần hóa, sẽ thu hút
một luồng vốn đầu tư đáng kể các tổ chức trong và ngoài nước, nên dòng
vốn đầu tư trên thị trường chứng khoán có thể bị suy giảm.
Về lý thuyết là vậy, nhưng thực tế quá trình tái cấu trúc DNNN đang
gặp không ít rào cản. Đó là các vấn đề lợi ích nhóm, khung pháp lý chưa
hoàn thiện, nợ tồn đọng và chi phí thực hiện.
Thứ nhất về vấn đề lợi ích nhóm, tức một số người đang được lợi rất
lớn từ doanh nghiệp, tổng công ty nhà nước. Bởi một khi thêm nhiều nhà
đầu tư mới và giảm ưu đãi từ phía Chính phủ, UBND các tỉnh, thành nơi
doanh nghiệp hoạt động, sẽ khiến nhiều lãnh đạo doanh nghiệp hay đại
diện vốn nhà nước tại DNNN lo ngại về quyền lợi của mình bị ảnh hưởng.
Do đó họ cố tình ngăn cản hoặc kéo dài thời gian thoái vốn, làm chậm trễ
tiến độ cải cách, tái cấu trúc.
Thứ hai là khung pháp lý vẫn chưa ổn định. Theo nhiều chuyên gia,
khung pháp lý hiện hành chưa quy định rõ căn cứ pháp lý làm cơ sở cho
các chủ sở hữu thực hiện giám sát tập đoàn kinh tế nhà nước. Đồng thời,
còn thiếu cơ chế phối hợp giữa các chủ thể thực hiện giám sát; thiếu cơ
chế công khai, minh bạch thông tin, kiểm tra, kiểm duyệt thông tin báo
cáo; thiếu cơ chế cho phép một tổ chức hay đơn vị độc lập tham gia vào
quá trình đánh giá, giám sát hiệu quả.
Rào cản thứ ba của quá trình tái cấu trúc DNNN hiện nay là việc phải xử lý số nợ tồn đọng của tập đoàn, tổng công ty lớn.
Để từng bước tháo bỏ các rào cản trên, giải pháp đẩy mạnh tái cấu
trúc DNNN giai đoạn 2012-2015 là nhanh chóng loại bỏ tình trạng kinh
doanh ngoài ngành, đầu tư dàn trải và kém hiệu quả, đảm bảo vai trò dẫn
dắt nền kinh tế của DNNN; kiên trì, nhất quán xây dựng môi trường cạnh
tranh lành mạnh, bình đẳng, tuân thủ theo nguyên tắc thị trường thông
qua việc hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động và quản lý DNNN; đẩy
nhanh tiến độ cổ phần hóa và cơ cấu lại nguồn vốn tại DNNN, hài hòa các
mối quan hệ, tránh tình trạng bị chi phối bởi tư duy “lợi ích nhóm”; hạn
chế tối đa những rủi ro phát sinh từ tái cấu trúc nền kinh tế nói chung
và tái cấu trúc DNNN nói riêng.
Một khảo sát mới đây tại khu vực doanh nghiệp cho thấy 12 nhóm giải
pháp tái cơ cấu đã nêu trong đề án tái cơ cấu nền kinh tế nước ta là cần
thiết, cơ bản đáp ứng những nhu cầu tái cơ cấu nền kinh tế hiện nay.
Tuy nhiên, với cơ chế và động lực thực hiện chính sách như hiện nay, một
số nhóm giải pháp được nêu ra trong đề án có tính khả thi rất thấp
trong giai đoạn 2012-2015.
Cụ thể, trong số 12 nhóm giải pháp được khuyến nghị tại đề án tái cơ
cấu kinh tế, có 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao, 3 nhóm giải pháp
khó thực hiện và 5 nhóm giải pháp có tính khả thi thấp.
Đặc biệt, những nhóm giải pháp quan trọng như "nâng cao chất lượng
quy hoạch", "phát triển các cụm sản xuất liên ngành", "phát huy lợi thế
kinh tế của vùng", "phát triển khoa học, công nghệ" có tính khả thi thấp
do thiếu nguồn lực và giải pháp chi tiết để thực hiện.
Do vậy, để những giải pháp trên đi vào cuộc sống, cần có những cơ
chế, chính sách và nguồn lực mang tính đột phá để thực hiện những giải
pháp này.
ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH