Tel: +84 24 35742022 | Fax: +84 24 35742020

Hội thảo “Giải pháp tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”

Thứ năm, 05-10-2017 | 16:47:00 PM GMT+7 Bản in
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức Hội thảo “Giải pháp tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” năm 2017 vào chiều 5/10 tại Hội trường 1, tầng 7, tòa nhà VCCI.
Đông đảo khách mời đã tới tham dự chương trình.

Đông đảo khách mời đã tới tham dự chương trình.

Tham dự Hội thảo, về phía NHNN có: TS Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ông Nguyễn  Quốc Hùng – Vụ trưởng vụ tín dụng các ngành kinh tế NHNN; Đại diện lãnh đạo một số vụ cục chức năng của NHNN Việt Nam: Vụ Tín dụng các ngành kinh tế; Vụ chính sách tiền tệ; Vụ dự báo thống kê; Viện chiến lược ngân hàng; Vụ pháp chế; Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng; Công ty quản lý và khai thác tài sản (VAMC); Vụ Truyền thông. 

Về phía Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có: TS Đoàn Duy Khương - Phó Chủ tịch VCCI; Ông Nguyễn Bắc Hà – Trưởng Ban Hội viên VCCI; Ông Phạm Ngọc Tuấn – Tổng Biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp; Ông Nguyễn Tiến Dũng – Phó Tổng Biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp.

Về phía các cơ quan quản lý, các chuyên gia có: Bà Hoàng Thị Hồng – Giám đốc Quỹ hỗ trợ DNNVV – Bộ Kế hoạch Đầu tư; TS Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia; Chuyên gia tài chính ngân hàng; Tiến sĩ Cấn Văn Lực – Chuyên gia tài chính ngân hàng.

Về phía các Hiệp hội có: Ông Mạc Quốc Anh – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Hà Nội; Ông Nguyễn Vân – Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội DN ngành Công nghiệp hỗ trợ TP Hà Nội; Ông Đường Trọng Khang - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc.

Toàn cảnh hội thảo

Toàn cảnh hội thảo

Chương trình còn có sự tham dự của gần 300 khách mời là đại diện các Sở, Ngành liên quan, các Hiệp hội Doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại cổ phần, các doanh nghiệp cùng các cơ quan thông tấn báo chí.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, chúng ta đang sống trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó cộng đồng doanh nghiệp là động lực phát triển của nền kinh tế. 

TS Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

TS Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Trong bối cảnh như vậy Chính phủ Việt Nam đã có nhiều động thái hỗ trợ DN thông qua Nghị quyết 35, Nghị quyết 19... Chính phủ Việt Nam và cộng đồng DN đã và đang hướng tới năm cộng đồng kinh tế ASEAN. Năm nay ASEAN kỷ niệm 50 năm thành lập. Bên cạnh những cơ hội, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. 

Để kỷ niệm 50 năm thành lập ASEAN, mong muốn thúc đẩy DN Việt Nam phát triển, trong đó có DNNVV tiến tới cộng đồng ASEAN, sắp tới VCCI sẽ kết nối cộng đồng DN Việt Nam tại Malaysia, Singapore…

Bên cạnh đó, tháng 11 tới, VCCI cũng đồng tổ chức Hội nghị APEC 2017, CEO cấp cao... Dự kiến sẽ có 1000 DN của APEC trong đó có nhiều tỷ phú tham dự sự kiện này. Đây là cơ hội tốt để DN Việt Nam giữ vững thị trường nội địa cũng như mở rộng thị trường quốc tế.

Ông Khương khẳng định: Nói đến cộng đồng DN, chúng ta không thể không nói đến cộng đồng DNNVV bởi trong bất kỳ nền kinh tế nào, DNNVV cũng là xương sống của nền kinh tế.  

Tại Việt Nam, hiện  nay DNNVV chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 45% GDP, 31% tổng thu ngân sách và thu hút hơn 5 triệu lao động. "Bên cạnh việc đóng góp cho sự phát triển kinh tế, rõ ràng cộng đồng DN này đang đóng góp cho sự ổn định công ăn việc làm, góp phần khắc phục rủi ro cho nền kinh tế, đưa nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững". - ông Khương nói.

TS Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN Việt Nam

TS Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN Việt Nam.

Phát biểu tại Hội thảo, TS Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN Việt Nam cho biết, giải pháp tín dụng cho DNNVV không phải chủ đề mới nhưng cũng không bao giờ cũ bởi thực tế hiện nay phía DN phàn nàn kêu khó tiếp cận nguồn vốn, trong khi ngân hàng thương mại kêu khó mở rộng tín dụng cho DNNVV. Điều này đã giải quyết được một cách rất tích cực qua các cơ chế của nhà nước như Nghị quyết 19, Nghị quyết 35 của Chính phủ.

Đặc biệt, giới DNNVV ai cũng thừa nhận sự quyết liệt từ Chính phủ, đặc biệt khi Quốc hội vừa ban hành Luật dành riêng cho DNNVV.

"Hiện cái khó tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đều cũng đã nhận thấy từ 2 phía. Hội thảo ngày hôm nay DN đừng kêu khó mà hãy đề xuất các biện pháp để giải quyết cái khó khăn trên. Chính giải pháp đó giúp cơ quan quản lý sớm hoàn thiện được giải pháp gỡ vướng cho DNNVV" - ông Tú đề nghị. 

Từ trái qua phải: Ông Nguyễn Quốc Hùng - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế NHNN; TS Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN Việt Nam; TS Đoàn Duy Khương - Phó Chủ tịch VCCI; ông Phạm Ngọc Tuấn - Tổng Biên tập Báo Diễn đàn Doanh nghiệp.

TS Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Chuyên gia tài chính ngân hàng chia sẻ về những khó khăn trong trung và dài hạn từ bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước đã tác động tới nền kinh tế Việt Nam.

Ông Nghĩa cho rằng, hiện nay các DNNVV có hai rủi ro lớn đó là việc nhiều DN DN đã đầu tư ngoài ngành và phát triển quy mô của chính sản phẩm của mình mà không quan tâm nhiều tới quy luật phát triển vi mô. Do đó, “các DN đặc biệt là DNNVV cần phải có chiến lược hoạt động hiệu quả và minh bạch thông tin trong báo cáo tài chính. Có như vậy tôi tin rằng Ngân hàng chắc chắn sẽ là người bạn đồng hành cùng DNNVV” – ông Nghĩa nói.

TS Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.

TS Lê Xuân Nghĩa - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.

Ông Nghĩa chia sẻ “Khảo sát của chúng tôi cho thấy, lãi suất cho vay trong các chương trình kết nối, các sáng kiến, các gói tín dụng của các Ngân hàng Thương mại thường thấp hơn mặt bằng lãi suất chung từ 0,5% - 1,5%. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ còn được vay tín chấp tại các Ngân hàng Thương mại, điều mà trước đây rất hiếm thấy, ngoại trừ đối với doanh nghiệp Nhà nước. Và, có thể thấy từ vài năm gần đây, đặc biệt là từ khi triển khai Thông tư 39 của Ngân hàng Nhà nước, quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được cải thiện theo hướng cởi mở hơn, gần gũi hơn và hiệu quả hơn”.

Tham luận tại Hội thảo với đề tài “Tiếp cận vốn ngân hàng của DNNVV tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, TS Cấn Văn Lực – Chuyên gia Tài chính – Ngân hàng cho biết, DNNVV có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội không quá 200 người, tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng và tổng doanh thu năm liền kề không quá 300 tỷ đồng. Thống kê mới đây cho thấy có khoảng 590.000 DNNVV hoạt động tính đến cuối năm 2016; trong số đó 68% là siêu nhỏ.

Nguồn vốn dành cho DNNVV đến từ các nguồn sau: ngân sách Nhà nước (trợ cấp, bảo lãnh, bảo hiểm, ưu đãi, giảm thuế…); Nguồn vốn nước ngoài; Huy động từ thị trường vốn (chứng khoán, trái phiếu); Đối tác (trả chậm, tín dụng thương mại…); Nguồn vốn tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu, thuê tài chính; Vốn tự có, vốn góp.

TS Cấn Văn Lực – Chuyên gia Tài chính – Ngân hàng

TS Cấn Văn Lực – Chuyên gia Tài chính – Ngân hàng.

Theo ông Lực, có 8 nguyên nhấn khiến tín dụng DNNVV còn chưa cao. Một là, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thời gian qua. Hai là, nguồn lực ngân sách Nhà nước rất hạn chế; một số chương trình, gói hỗ trợ chưa phát huy. Ba là, thiếu thông tin/tổ chức cung cấp thông tin về DNNVV; và qui định minh bạch hóa thông tin đối với DNNVV. Bốn là, bảo lãnh DNNVV vay vốn chưa được đẩy mạnh. Năm là, nợ xấu cần có thời gian để xử lý triệt để và nhanh hơn (sau Nghị quyết 42 của Quốc hội) chưa xử lý dứt điểm. Sáu là, thiếu các dịch vụ hỗ trợ DN: đào tạo, tư vấn, thông tin….(Quỹ hỗ trợ DNNVV đã đi vào hoạt động nhưng chưa làm được nhiều). Bảy là, thị trường vốn (cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư, tài chính vi mô) còn nhỏ bé, chưa phát triển. Tám là, môi trường kinh doanh có cải thiện, nhưng còn phức tạp, chi phí không chính thức còn cao.

Các vị khách mời tham dự Hội thảo.

Các vị khách mời tham dự Hội thảo.

Bên cạnh các nguyên nhân kể trên, ông Lực cho rằng còn có nguyên nhân đến từ các tổ chức tín dụng (TCTD). Theo đó, một số TCTD chưa thực sự “mặn mà” đối với khách hàng DNNVV, một phần do quy mô và hiệu quả tín dụng không cao, trong khi rủi ro và chi phí hoạt động cao. Các TCTD chưa có các sản phẩm-dịch vụ chuyên biệt cho nhóm khách hàng DNNVV, các sản phẩm chưa đa dạng, linh hoạt. Đặc biệt, thủ tục tín dụng còn rườm rà, phức tạp cũng là một trong những “rào cản” khiến TCTD chưa thể giải ngân.

Ngoài ra, ông Lực cũng cho rằng có một nguyên nhân nữa đến từ chính các DNNVV, đó là DNNVV có trình độ quản lý yếu kém, công nghệ lạc hậu; trình độ lao động thấp; thông tin kém minh bạch, khả năng đáp ứng đủ điều kiện hồ sơ vay vốn ngân hàng còn hạn chế. Nhiều DNNVV thiếu chiến lược kinh doanh, phương án kinh doanh chưa khả thi; Sản phẩm thiếu tính cạnh tranh, chưa tạo vị thế, thương hiệu trên thị trường; chủ yếu thanh toán tiền mặt nên ngân hàng khó kiểm soát dòng tiền. Đặc biệt, DNNNV thường thiếu tài sản đảm bảo, chưa có thói quen mua bảo hiểm rủi ro, thiếu hiểu biết về cơ chế, chính sách, sản phẩm – dịch vụ và các gói của các định chế tài chính, các chương trình bảo lãnh, hỗ trợ của Chính phủ/hiệp hội…

Về phía các TCTD, ông Lực cho rằng các TCTD gặp nhiều khó khăn thách thức khi cho DNNVV vay vốn bởi DN thiếu tài sản đảm bảo, thông tin kém minh bạch, khả năng đáp ứng đủ điều kiện hồ sơ vay vốn còn hạn chế (thiếu phương án kinh doanh khả thi...), khó cho vay dựa trên dòng tiền. Bên cạnh đó, DN thường ngại hoàn thiện thủ tục vay vốn (do thói quen, do thiếu thông tin, thiếu cán bộ hiểu biết về tài chính, về thủ tục vay vốn...).

Ông lực khẳng định: Thời gian qua, chúng ta đã có một số cơ chế, chính sách, sáng kiến nhằm hỗ trợ DNNVV trong việc tiếp cận vốn như tổ chức chương trình kết nối Ngân hàng-doanh nghiệp; Gói cho vay hỗ trợ nhà ở (30.000 tỷ đồng); Cho vay cánh đồng lớn, DN ứng dụng công nghệ cao; Các NHTM tung ra nhiều gói tín dụng đa dạng hỗ trợ DNNVV…

Bên cạnh đó, chúng ta đã có Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV. Các chương trình cho vay ưu đãi của các tổ chức quốc tế như ADB, JICA (chương trình SMEFP I, II và III), IFC... Chính phủ, NHNN tiếp tục ưu đãi lãi suất tín dụng 5 lĩnh vực ưu tiên (xuất nhập khẩu, Nông nghiệp-nông thôn, SMEs, Công nghiệp hỗ trợ, DN ứng dụng công nghệ cao). Mặt bằng lãi suất cũng đã giảm mạnh, tỷ giá khá ổn định; NHTM đã chủ động tìm DN tốt để cho vay; giảm thiểu thủ tục; NHNN đang hoàn thiện môi trường pháp lý, thúc đẩy thị trường cho thuê tài chính (CTTC)…

Ngoài ra, Chính phủ, bộ ngành, hiệp hội liên quan cũng sớm ban hành hướng dẫn Luật hỗ trợ DNNVV; theo đó, tập trung các khó khăn, vướng mắc của DNNVV hiện nay: Đẩy mạnh triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ đã ban hành (công nghiệp phụ trợ, nông nghiệp - nông thôn…); Nâng cao năng lực triển khai tại địa phương và bộ, ngành liên quan; Đẩy mạnh hoạt động của Quỹ bảo lãnh DNNVV (phối hợp tốt hơn giữa Quỹ, NHTM, Hiệp hội, chính quyền địa phương….); Quỹ hỗ trợ DNNVV; Xây dựng hệ thống thông tin thị trường, sản phẩm, đối tác trợ giúp DNNVV; hệ thống thông tin DN; Đôn đốc quyết liệt cải thiện môi trường kinh doanh-đầu tư (nhất là thủ tục thuế, hải quan, cấp phép, phá sản DN, kết cấu hạ tầng, dịch vụ logistics, hỗ trợ tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0...); Đẩy mạnh các chương trình cụm liên kết ngành, liên kết vùng, liên kết 3 khối DN; Phát triển cân bằng thị trường tài chính (nhất là thị trường chứng khoán, trái phiếu, tài chính vi mô, quỹ đầu tư…); Tăng cường vai trò Hiệp hội DNNVV, thúc đẩy gắn kết VINASMEs với các hiệp hội SMEs địa phương; Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển, hỗ trợ MSMEs (khuôn khổ APEC, AEC...).

Các vị khách mời tham dự Hội thảo.

Các vị khách mời tham dự Hội thảo.

NHNN cũng đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020; Tăng cường phối hợp chính sách (CS tài khóa; phát triển NN-NT; bảo lãnh/hỗ trợ DNNVV; phát triển tài chính vi mô, thị trường vốn; thông tin về DNNVV…); Tiếp tục định hướng các lĩnh vực ưu tiên cấp tín dụng (trong đó có DNNVV); cải tiến qui trình tái cấp vốn cho các ĐCTC tham gia; Tăng vai trò của CIC trong việc thu thập, quản lý và cung cấp thông tin về DNNVV; Định hướng, hỗ trợ các NHTM trong việc đào tạo, nâng cao kiến thức của DNNVV về tài chính-tín dụng.

Các ĐCTC đã thiết kế các sản phẩm đặc thù đối với SMEs; Xây dựng phương thức thẩm định phù hợp với SMEs; tăng cường phối hợp; Các tổ chức/hiệp hội, chuyên gia ngành nghề để nâng cao chất lượng thẩm định; Tăng cường cung cấp các dịch vụ (tư vấn, đào tạo, thông tin, hội thảo…) cho khách hàng SMEs; Rà soát, đẩy mạnh cho vay các gói tín dụng đã thiết kế; Đẩy nhanh tái cơ cấu và xử lý nợ xấu; giảm thiểu chi phí, thủ tục hành chính (qua đó, có thể tăng khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV); Phối hợp các cơ sở bán lẻ, hiệp hội, quỹ bảo lãnh…nhằm giảm thiểu chồng chéo trong thẩm định, đẩy mạnh cho vay tiêu dùng; Tăng cường ứng dụng CNTT, nhất là quản lý thông tin, cơ sở dữ liệu khách hàng DNNVV; Hỗ trợ đào tạo, nâng cao kiến thức của DNNVV về tài chính-tín dụng.

Về phía các DNNVV, cũng đã minh bạch hoạt động, báo cáo tài chính; Có thiện chí hợp tác, phối hợp với TCTD trong cung cấp thông tin, cơ cấu lại nợ và xây dựng phương án kinh doanh phù hợp; Chủ động tăng hiểu biết về tài chính-tín dụng, bảo lãnh và các chính sách hỗ trợ DNNVV; Thực hiện quyết liệt tái cơ cấu (chiến lược-tổ chức, hoạt động, tài chính và quản trị….); Tăng cường liên kết (ngang và dọc) cùng chia sẻ khó khăn, cơ hội; chủ động, quyết liệt tham gia chuỗi cung ứng (nhất là đối với DN FDI); Nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp bằng việc áp dụng các thông lệ và chuẩn mực về quản trị DN và quản lý rủi ro; Củng cố, tăng cường, đào tạo đội ngũ CBNV, phát triển VHDN và qua đó, giảm thiểu rủi ro đạo đức trong kinh doanh.

Bà Hoàng Thị Hồng – Giám đốc Quỹ hỗ trợ DNNVV – Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa.

DNNVV có số lao động tham gia BHXH không quá 200 người và đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng và tổng doanh thu năm liền kề không quá 300 tỷ đồng. DNNVV được xác định theo lĩnh vưc: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng, thương mại và dịch vụ.

Các DNNVV gặp khó khăn trong tiếp cận vốn bởi thủ tục vay vốn phức tạp, thiếu tài sản đảm bảo, thông tin, tài chính thiếu đầy đủ, kém minh bạch, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, trình độ quản trị tài chính kém. Đặc biệt, DN tư nhân/DNNVV có ít ưu thế hơn so với các DN nhà nước/DN lớn.

bà Hoàng Thị Hồng – Giám đốc Quỹ hỗ trợ DNNVV – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

bà Hoàng Thị Hồng – Giám đốc Quỹ hỗ trợ DNNVV – Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Để hỗ trợ tài chính cho các DNNVV, bà Hồng đưa ra một số kiến nghị giải pháp.

Một là, minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp: Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về DNNVV để các TCTD có thể truy cập và sử (tổng tài sản, quy mô vốn chủ sở hữu, doanh thu, lợi nhuận hàng năm, tình trạng hoạt động... ).

Hai là, phát triển thị trường tín dụng dành cho DNNVV: Trong đó, phát triển các sản phẩm phù hợp với DNNVV: thủ tục, hồ sơ, lãi suất, TSBĐ…; Phát triển hoạt động cho vay khép kín từ khâu vay thu mua, sản xuất đến khâu chế biến và xuất khẩu cho các nhóm DNNVV có liên kết với nhau theo cùng một chuỗi.

Ba là, tăng cường liên kết NH với doanh nghiệp, NH với các định chế tài chính hỗ trợ DNNVV, với các hiệp hội DN. Cụ thể, thúc đẩy hình thành mạng lưới các nhà đầu tư, quỹ đầu tư để cung cấp vốn cho DNNVV; Tạo kênh huy động vốn (đặc biệt là vốn trung và dài hạn) cho DNNVV trên thị trường chứng khoán; Đẩy mạnh việc cơ cấu lại các công ty cho thuê tài chính.

Bà Hồng cũng thông tin tới các DNNVV về Quỹ Phát triển DNNVV. Theo đó, đây là tổ chức tài chính Nhà nước thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng. Quỹ hỗ trợ tài chính cho các DNNVV có dự án sản xuất khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên theo theo từng thời kỳ. Quỹ tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn tài chính, nguồn vốn trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật với mục đích giúp DNNVV phát huy toàn bộ tiềm năng, coi thành công của DN là mục tiêu cốt lõi trong mọi hoạt động.

Không chỉ vậy, Quỹ còn vận dụng những cơ chế, phương thức sẵn có để tìm ra được những đối tượng thực sự cần hỗ trợ phù hợp với mục đích hoạt động của Quỹ. Cung cấp những sản phẩm hỗ trợ phù hợp với nhu cầu của DNNVV. Tìm ra giải pháp giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng kinh doanh, giảm thiểu rủi ro và phát triển vững chắc. Đồng thời, đưa ra những chỉ dẫn đến từng doanh nghiệp để đảm bảo họ tập trung vào hoạt động kinh doanh.

Hiện Quỹ đang cho các DNNVV vay thông qua ủy thác cho các ngân hàng thương mại; Phối hợp với các tổ chức có liên quan triển khai hoạt động tư vấn tài chính, thông tin, quản trị, kết nối kinh doanh, hỗ trợ tăng cường năng lực cho DNNVV thuộc đối tượng hỗ trợ của Quỹ; Nhận vốn ủy thác, tài trợ, viện trợ của các tổ chức để hỗ trợ tài chính đối với DNNVV; Hỗ trợ các DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; Tiếp nhận nguồn vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện hoạt động hỗ trợ DNNVV…

DNNVV vay vốn từ Quỹ sẽ được ưu đãi lãi suất thấp hơn: 5.5% vay ngắn hạn, 7% trung và dài hạn. Mức lãi suất được cố định suốt thời hạn vay. Với việc vay vốn từ Quỹ này, DN cũng được yêu cầu tài sản thế chấp ít hơn, không quá 100% tổng giá trị khoản vay, ưu tiên sử dụng tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay. Hoàn trả khoản vay trong thời gian tối đa 10 năm…

Cũng theo bà Hồng, có một số trường hợp Quỹ không ưu tiên hỗ trợ, đó là DNNVV có tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) lớn hơn 100 tỷ đồng. Trừ các trường hợp DNNVV đáp ứng được các tiêu chí quy định tại chương trình hỗ trợ DNNVV đổi mới sáng tạo; DNNVV có dự án, phương án SX-KD có điểm tiêu chí ưu tiên lựa chọn đạt từ 80 điểm trở lên theo quy định tại phụ lục 1 Thông tư số 13/2015/TT-BKHĐT ngày 28/10/2015.

Ngoài ra, DNNVV có vốn sở hữu của nhà nước và DNNVV tái chế phế liệu nhập khẩu hoặc dự án liên quan đến hoạt động chôn lấp rác thải cũng không được Quỹ ưu tiên hỗ trợ.

Tại hội thảo, TS Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Hà Nội đưa ra dẫn chứng, DNNVV của Hà Nội chiếm 97,2 % tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập, là khu vực doanh nghiệp này có vai trò rất quan trọng đóng góp 40% GDP, tạo việc làm cho 50,1% lao động.

Hiện nay, các DNNVV rất hạn chế về vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, kỹ năng quản trị và tiếp thị, thậm chí còn kinh doanh theo kinh nghiệm hay chụp giật. Điều này khiến cho khối DNNVV chỉ đông về số lượng, nhưng chất lượng, hiệu quả kinh doanh, khả năng cạnh tranh không cao.

TS Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Hà Nội

TS Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Hà Nội.

“Ngay cả những điểm vẫn coi là lợi thế của DNNVV như cần ít vốn, cơ động và linh hoạt, tiết kiệm chi phí mà trước hết là chi phí quản lý, sử dụng nguồn lao động tại chỗ dồi dào và giá rẻ... thì cũng không còn là lợi thế, thậm chí trở thành bất lợi trong môi trường cạnh tranh quốc tế vô cùng quyết liệt” – ông Quốc Anh cho biết.

Cũng theo ông Quốc Anh, trên thực tế không một doanh nghiệp nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Vốn tín dụng của ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh. Từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục.

Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi.

Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.

Cũng theo ông Quốc Anh, cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài là một vấn đề khó khăn.

“Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được. Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa. Như vậy có thể đáp úng kịp thời, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng. Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh” – ông Quốc Anh cho biết.

Theo ông Quốc Anh, Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa vừa được thông qua là cơ hội tích cực tạo sự thong thoáng cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn cho DNVVV, với chính sách này là bước ngoặt quan trọng để tạo tiền đề cho doanh nghiệp phát triển.

“Chúng tôi hy vọng với những quyết sách của Chính phủ hiện nay sẽ có những văn bản ban hành thiết thực hiệu quả cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận tín dụng cho DNNVV, lực lượng doanh nghiệp quan trọng hiện nay của nền kinh tế tạo việc làm, góp phân an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế, liên kết chuỗi giá trị toàn cầu” – ông Quốc Anh nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Quốc Hùng – Vụ trưởng Vụ trưởng vụ tín dụng các ngành kinh tế NHNN cho biết, mặc dù tín dụng đối với DNNVV trong thời gian vừa qua đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, qua tiếp nhận thông tin, NHNN nhận thấy việc cho vay DNNVV vẫn còn gặp phải những khó khăn, vướng mắc như sau:

ông Nguyễn Quốc Hùng – Vụ trưởng Vụ trưởng vụ tín dụng các ngành kinh tế NHNN

Ông Nguyễn Quốc Hùng – Vụ trưởng Vụ trưởng vụ tín dụng các ngành kinh tế NHNN.

Thứ nhất, xuất phát những khó khăn chung của thị trường trong và ngoài nước đối với các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam, nhất là các sản phẩm nông nghiệp thế mạnh. Trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia ngày càng sâu vào thương mại toàn cầu vì vậy việc cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại (ngay trên thị trường trong nước) ngày càng mạnh mẽ. Mặt khác, biến đổi khí hậu và tình hình thiên tai, bão lụt ngày càng phức tạp cũng ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, trong đó có DNNVV và tới hiệu quả cho vay của các TCTD.

Thứ hai, những hạn chế xuất phát từ chính bản thân DNNVV, như: Phần lớn các DNNVV có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính hạn chế; trình độ quản trị kinh doanh còn bất cập và thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, phương án kinh doanh khả thi.

Các DNNVV chưa coi trọng việc cập nhật thông tin hoạt động cũng như tổ chức hạch toán kế toán theo quy định, thường nộp báo cáo tài chính cho ngân hàng chậm, số liệu thiếu chính xác, chưa có kiểm toán độc lập nên ảnh hưởng đến quá trình xem xét và thẩm định hồ sơ vay vốn.

Thiếu các tài sản để bảo đảm cho khoản vay theo quy định hoặc tài sản đảm bảo có giá trị thấp, quyền sở hữu tài sản đảm bảo không minh bạch. Nhiều tài sản có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nhưng chưa được chứng nhận tài sản gắn liền với đất hoặc chưa chuyển đổi mục đích sử dụng gây khó khăn trong quá trình định giá của ngân hàng.

Một số DNNVV chưa có sự hợp tác chặt chẽ với ngân hàng khi vay vốn hoặc cơ cấu lại khoản nợ đã vay như cung cấp thông tin không chính xác, minh bạch (có tình trạng báo cáo tài chính nộp cho ngân hàng không đúng với báo cáo thuế...) khi vay vốn và thiện chí trả nợ hoặc xin cơ cấu lại nợ khi tài chính gặp khó khăn. TCTD gặp khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền của các DNNVV khi cho vay vốn.

Thứ ba, chưa có sự triển khai đồng bộ và phối hợp chặt chẽ giữa các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp của các Bộ, ngành, địa phương; Một số tổ chức tín dụng còn thiếu kinh nghiệm trong việc thẩm định phương án sản xuất kinh doanh của DNNVV, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực mới, đặc thù mà còn nặng về tài sản đảm bảo cho khoản vay.

Thứ tư, việc duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã và đang phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn vốn vay ngân hàng, tạo ra áp lực lớn cho hệ thống TCTD, trong khi TCTD không có đầy đủ thông tin về doanh nghiệp, không kiểm soát được dòng tiền nên dẫn đến tâm lý e dè khi quyết định cho vay các DNNVV.

Thứ năm, chính sách bảo lãnh tín dụng cho DNNVV còn tồn tại nhiều bất cập, chưa phát huy được hiệu quả trong trợ giúp DNNVV tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, vì vậy chưa khuyến khích được các DNNVV tìm đến và các TCTD cho vay có bảo lãnh của các tổ chức này.

Ông Nguyễn Quốc Hùng cho biết, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước luôn xác định phát triển DNNVV là động lực phát triển của nền kinh tế quốc dân và DNNVV là một trong 5 lĩnh vực ngành ngân hàng ưu tiên đầu tư tín dụng. Để tiếp tục mở rộng tín dụng hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của DNNVV trong thời gian tới, ngành ngân hàng tập trung vào một số các giải pháp.

Thứ nhất, thực hiện điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt góp phần kiềm chế lạm phát, kiểm soát tỷ giá và ổn định kinh tế vĩ mô để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp, trong đó có các DNNVV.

Thứ hai, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương trong triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV đã được quy định trong Luật hỗ trợ DNNVV, đặc biệt là chính sách về bảo lãnh tín dụng cho DNNVV vay vốn TCTD, Quỹ phát triển DNNVV, xây dựng và hoàn thiện các Nghị định hướng dẫn Luật để bảo đảm sự đồng bộ ngay sau khi Luật có hiệu lực.

Thứ ba, tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ và giải pháp tại Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ và phát triển doanh; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp (đặc biệt là DNNVV) tiếp cận vốn tín dụng.

Thứ tư, chỉ đạo các TCTD tiếp tục rà soát để cải tiến thủ tục vay vốn nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho khách hàng, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng giữa TCTD và doanh nghiệp; tích cực triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để cùng với chính quyền các địa phương trực tiếp tháo gỡ đồng bộ những khó khăn, vướng mắc trên tất các các lĩnh vực khác nhau để doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Thứ năm, khuyến khích các TCTD phát triển đa dạng các sản phẩm tín dụng, trong đó có các sản phẩm tín dụng đặc thù cho đối tượng DNNVV và các sản phẩm mới như: các sản phẩm về ngoại tệ, các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỷ giá nhằm giúp doanh nghiệp chủ động về vốn, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro; đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay.

Ông Hùng cũng cho biết, giải pháp của ngành ngân hàng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có sự phối hợp nhịp nhàng từ các cơ quan, bộ ngành, hiệp hội và bản thân các doanh nghiệp.

Theo đó, các Bộ, ngành sớm hoàn thiện các văn bản (Nghị định, Thông tư) hướng dẫn Luật Hỗ trợ DNNVV, bảo đảm các chính sách hỗ trợ DNNVV được triển khai đồng bộ ngay sau khi Luật có hiệu lực, đặc biệt là hoàn thiện chính sách về bảo lãnh cho DNNVV vay vốn theo hướng phù hợp với thực tiễn, đảm bảo hài hòa lợi ích của tất cả các bên tham gia và thể hiện được vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ DNNVV thông qua công cụ này.

Bên cạnh đó, các Hiệp hội ngành nghề cần nâng cao vai trò, tầm ảnh hưởng của mình để làm cầu nối cho các DNNVV tiếp cận với các TCTD; đầu mối trong việc hỗ trợ cho các DNNVV về thông tin thị trường, các hoạt động xúc tiến thương mại, triển lãm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các doanh nghiệp thành viên.

Bản thân các DNNVV cũng phải tự hoàn thiện, tuân thủ quy định của pháp luật và chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực để nâng cao uy tín đối với các tổ chức tín dụng. Tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị của sản phẩm, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng kiểm soát dòng tiền và tình hình tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá trình vay vốn.

Tại hội thảo, ông Lâm Văn Chiểu - Phó Giám đốc Công ty TNHH Cường Tâncũng nêu lên thực tế, doanh nghiệp sản xuất giống lúa lai F1 hàng đầu Việt Nam với diện tích sản xuất lớn nhưng là diện tích đi thuê của bà con nông dân rồi quy hoạch lại thành “Cánh đồng mẫu lớn” vùng sản xuất tập trung, với số vốn đã đầu tư xây dựng khá lớn (TB: 60.000.000 đồng/ha), nhưng phần Đất đai sản xuất, hạ tầng cánh đồng không có giá trị thế chấp để bảo lãnh vay vốn.

ông Lâm Văn Chiểu - Phó Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân

Ông Lâm Văn Chiểu - Phó Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân.

Do vậy, ông Chiểu đề nghị hệ thống Ngân hàng tăng cường kiểm tra, xem xét các DN làm ăn hiệu quả nhằm tăng tỷ lệ cho vay tín chấp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.

Cũng với đó, sản xuất giống lúa lai F1 và giống lúa thuần chất lượng cao phải ứng dụng công nghệ cao, sản phẩm lúa giống là loại sản phẩm đặc thù. Mỗi loại hạt lúa giống được phân khúc gieo cấy ở một thời vụ nhất định để đảm bảo an toàn năng suất và chất lượng cho bà con nông dân. Do vậy hạt giống cần phải sấy, rê sàng phân loại, bảo quản lưu kho lạnh từ 1-2-3 vụ nhằm đảm bảo chất lượng hạt giống và giảm tổn thất sau thu hoạch, và ứng trước vốn lúa giống đang lưu kho cho bà con nông dân; đồng thời phải có vốn để ứng trước cho bà con nông dân sản xuất vụ tiếp theo.

Công ty Cường Tân đề nghị được hỗ trợ lãi suất vay theo chương trình hỗ trợ DN KHCN, tăng tỷ lệ vốn vay dài hạn; cơ cấu lại thời hạn trả nợ để tạo điều kiện cho doanh nghiệp Nông nghiệp mạnh dạn đầu tư phục vụ sản xuất kinh doanh.

Cũng theo ông Chiểu, hiện nay các DN đang rất cố gắng gồng mình để vượt qua và chống chọi với những khó khăn chung của nền kinh tế hiện tại, đặc biệt với các DN nông nghiệp mức độ rủi ro ngày một gia tăng, rủi ro về giá, rủi ro về dòng vốn, rủi ro về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu... khó khăn tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Do vậy ông Chiểu thay mặt cộng đồng DN đề nghị hệ thống Ngân hàng và các cơ quan chức năng hỗ trợ để nâng cao năng lực tiếp cận và mở rộng thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra, trong đó đặc biệt chú ý tới các thị trường mới, giàu tiềm năng; xây dựng và thiết lập hệ thống kênh phân phối hiệu quả.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Quốc Toản – đại diện Công ty TNHH Toản Xuân cho biết, việc Chính phủ ban hành nghị định 55/2015/NĐ-CP Về chính sách cho vay phát triển nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp sạch và dự kiến xây dựng gói tín dụng 100.000 tỷ đồng cho nông nghiệp công nghệ cao. Đây là thể hiện quan điểm cụ thể của Đảng và nhà nước đối với phát triển nông nghiệp nông thôn trên tất cả nước để phấn đấu có một nên nông nghiệp hàng hoá bền vững phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Ông Trần Quốc Toản – đại diện Công ty TNHH Toản Xuân

Ông Trần Quốc Toản – đại diện Công ty TNHH Toản Xuân.

Tuy nhiên để chính sách tín dụng đó đến với doanh nghiệp nông nghiệp nhất là những doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cả nước lại là một vấn đề không dễ đối với các tổ chức tín dụng và người được thụ hưởng là các doanh nghiệp… vậy vấn đề cần tháo gỡ nằm ở đâu trong công cuộc kiến thiết này.

Theo ông Trần Quốc Toản, trước hết chúng ta phải thống nhất rằng chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhân tố làm nên đa dạng sản phẩm nông nghiệp trong rổ sản xuất hàng hoá nông nghiệp hiện nay. Để có những thành tích xuất khẩu nông nghiệp trên 30 tỷ đô la, nền tảng chính vẫn là các DN nông nghiệp vừa và nhỏ. Vấn đề đặt ra hiện nay là các DN vừa và nhỏ đang đứng trước thách thức:

Trước tiến trình hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng đòi hỏi cạnh tranh mức cao hơn. Muốn tồn tại trong cạnh tranh ngay cả trên sân nhà các sản phẩm phải đạt được yếu tố mẫu mã, chât lượng, nguồn gốc xuất xứ… đáp ứng được các yếu tố kiểm định nước ngoài… phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay không đáp ứng được.

Để giải quyết được các vấn đề nâng cấp được đẳng cấp vị thế sản phẩm các DN phải đặt ra là cấu trúc lại mô hình sản xuất đưa tiến bộ khoa học và quản lý vào canh tác. Muốn cấu trúc chắc chắn phải dựa nguồn lực lớn vào tín dụng ngân hàng. Các ngân hàng xuất phát từ quy định bảo toàn vốn nên việc cho vay đối lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chịu nhiều rủi ro về thời tiết thị trường là cả thách thức đối với ngân hàng.

Công ty TNHH Toản Xuân với chuỗi sản xuất gạo sạch toản xuân Nam Định đang quản lý diện tích trên 500ha lúa chất lượng cao mỗi năm cho ra thị trường khoảng 3000 (ba ngàn tấn) gạo đủ điều kiện ATTP cao cấp nhận thấy cần có động thái tích cực.

Về phía doanh nghiệp, đại diện Toản Xuân cho rằng phải tổ chức được chuỗi sản xuất có thương hiệu cụ thể, đáp ứng được các tiêu chí sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm an toàn … theo chuẩn mực thế giới và Việt Nam; Có chiến lược thị trường, phát triển thị trường rõ ràng cho phân khúc sản phẩm mình sản xuất; Áp dụng đầy đủ kịp thời các thành tựu KHCN tin học tự động hoá trong canh tác, lưu trữ, chế biến, đóng gói ….

Về phía ngân hàng, theo đại diện Toản Xuân, cần xác định được thực lực các chuỗi sản xuất theo quy trình khép kín công nghệ cao – nông nghiệp sạch; Những dự án cho ra những sản phẩm được thị trường đón nhận, có sức cạnh tranh tốt; Áp dụng chính sách nới lỏng thế chấp cho những doanh nghiệp có sản phẩm được thị trường đón nhận.

Bên cạnh đó Đảng và nhà nước cũng nên nghiên cứu thông qua các ngân hàng có chính sách lãi suất phù hợp cho các Doanh nghiệp công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp sạch, theo quan điểm của chúng tôi mức lãi suất để có thể thực thi được dự án công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp sạch, lãi suất ở mức 5% đến 6%/năm thì doanh nghiệp mới có hiệu quả và mạnh dạn đầu tư.

Bên cạnh đó chúng ta cũng cần làm rõ các khái niệm nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, từ đó xây dựng bộ tiêu chí cụ thể áp dụng tín dụng cho các thực thể trên một cách hợp lý có tính khả thi cao.

“Trong thời gian vừa qua rất mừng là đã có các doanh nghiệp lớn tham gia và lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao nhưng liệu những doanh nghiệp này có gánh được nhiệm vụ phát triển nông nghiệp mang tính dẫn dắt không chúng ta cần suy nghĩ. Nhưng nếu các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên cả nước phát triển mạnh mẽ chắc chắn sẽ cho một bức tranh nông nghiệp phong phú tham gia thị trường nông nghiệp, sản phẩm nông nghiệp trên thế giới đúng theo bản chất phong phú của tự nhiên”. – ông Toản nói.

=>> Xem tiếp nội dung của Hội thảo "Giải pháp tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa" TẠI ĐÂY.

Ý kiến bạn đọc (0)