Tel: +84 24 35742022 | Fax: +84 24 35742020

Kiến nghị 8 nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 (sau đây gọi tắt là Nghị định 38) quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm (ATTP) gồm:

Thứ tư, 20-07-2017 | 15:36:00 PM GMT+7 Bản in

Tên kiến nghị: Kiến nghị 8 nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 (sau đây gọi tắt là Nghị định 38) quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm (ATTP) gồm:

Tình trạng: Chưa phản hồi

Đơn vị kiến nghị: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP)

Công văn: 1680/PTM - VP, Ngày: 14/07/2017

Nội dung kiến nghị:

  1. Kiến nghị: Bãi bỏ quy định cấp Giấy Xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP và chuyển sang hình thức chứng nhận hợp chuẩn theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn Kỹ thuật tại các tổ chức được chỉ định bởi các cơ quan có thẩm quyền (đã có 37 tổ chức được chỉ định trên cả nước: Bộ Y tế: 13 tổ chức; Nông nghiệp và PTNT: 24 tổ chức) do hình thức Công bố phù hợp quy định ATTP không có quy định trong Luật ATTP và thực hiện thời gian 4 năm qua cho thấy sự bất cập, vướng mắc như tính chất của một “Giấy phép con”.

Lí do: Thủ tục này tạo rào cản lớn cho sản xuất kinh doanh và không giúp cải thiện an toàn thực phầm:

- Thủ tục cấp Giấy Xác nhận công bố phù hợp với quy định ATTP đã có quy trình và cách thức như là một giấy phép con tạo ra rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.

+ Tốn kém thời gian: NĐ38 quy định thời gian trả lời là 15 ngày làm việc với thực phẩm thường; và 30 ngày làm việc (=1,5 tháng) với thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng kể từ khi nộp đủ hồ sơ, nhưng thực tế sau những thời hạn quy định trên DN thường nhận được công văn yêu cầu bổ sung, và thường nhận nhiều lần, mỗi lần bổ sung thời gian thẩm xét lại tính lại từ đầu. Nhiều khi mất tới 3-5 tháng để được cấp giấy phép, làm mất nhiều cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp.

+ Phức tạp, rất khó cho doanh nghiệp tự làm nếu không thuê qua dịch vụ tư: Do không có các tiêu chí thẩm xét rõ ràng, các cán bộ thẩm xét tùy hứng bắt các DN bổ sung thêm đủ loại giấy tờ không có trong quy định, sửa đổi tiêu chuẩn theo quan điểm cá nhân khiến DN không biết đường nào mà lần nếu không thuê dịch vụ tư, trừ một số DN lớn và DN nước ngoài có đội ngũ nhân viên chuyên đăng ký.

- Một sản phẩm sản xuất trong nước có bao nhiêu nguyên liệu, phụ liệu, bao bì thì phải cõng từng đó giấy phép công bố, có thể lên tới hàng chục giấy phép con

- Không chỉ mất thời gian khi đăng ký lưu hành, cứ sau mỗi 3-5 năm lại phải xin xác nhận công bố lại, kể cả sản phẩm không có gì thay đổi và luôn luôn đạt chất lượng tốt.

- Thủ tục này không có ích lợi đáng kể gì trong việc cải thiện ATTP (vì ngay trong giấy Xác nhận công bố, cơ quan cấp phép khẳng định không chịu trách nhiệm gì về chất lượng sản phẩm: doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm). Đối với các thực phẩm do các DN đã áp dụng các biện pháp quản lý chất lượng tiên tiến như HACCP, GMP, ISO (kiểm soát chất lượng trong cả quá trình) và thực phẩm nhập khẩu (vì được kiểm tra chất lượng nhà nước khi nhập khẩu), thủ tục này hầu như hoàn toàn không có ý nghĩa.

  1. Kiến nghị: Trong khi chưa sửa được Luật ATTP, dựa trên quan điểm quản lý rủi ro trong NQ 19/2017, đề nghị: Bỏ (không cần) thực hiện công bố hợp quy với các sản phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn đối với tất cả những nước mà hiện tại Việt Nam đã ký kết FTA và/hoặc đã có những sự công nhận các giấy Chứng nhận (Kiểm Dịch Thực Vật (Phytosanitary Certificate) hoặc Chứng thư ATTP (Health Certificate)). Ít nhất, chúng ta nên áp dụng cho các nước có mức độ ATTP rất cao như EU, Mỹ, Úc, New Zealand, Canada và Nhật bản. Với cách thức này, DN hay nhà NK sẽ có trách nhiệm thông báo đến Cơ Quan nhà nước liên quan và nộp các chứng từ nhập khẩu kèm theo, ghi nhãn phụ hàng hóa để nhận dạng sản phẩm và tự chịu trách nhiệm về nội dung ghi nhãn. Đây là cách mà các nước EU đang quản lý tương tự cho hàng thực phẩm nhập khẩu từ Việt Nam.

2.1. Đơn giản hóa thủ tục xét cấp giấy tiếp nhận hợp quy cho đúng với Luật QC&TCKT:

- Đây bản chất chỉ là thủ tục thông báo tiếp nhận công bố chứ không phải là thủ tục đăng ký như việc thực hiện thời gian qua (Hiện tại, các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về công bố hợp quy thuộc ngành khác như Bộ Khoa học & Công nghệ, Bộ Xây dựng,… đều đang thực hiện hình thức này, và làm rất đơn giản, nhanh chóng chứ không phức tạp và khó khăn như Bộ Y tế).

- Hồ sơ phải theo đúng Luật QC&TCKT về các mục, biểu mẫu, phải bãi bỏ các yêu cầu ngoài Luật.

- Kiến nghị: Thời gian cấp Thông báo tiếp nhận công bố tối đa 3 ngày làm việc.

2.2. Quy định rõ: “trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do và cơ sở pháp lý của lý do đó” để tránh cán bộ nhũng nhiễu doanh nghiệp khi đưa ra những yêu cầu bổ sung vô lý.

- Quy định rõ biện pháp xử lý với các cán bộ cố tình đưa ra các yêu cầu ngoài luật (vì các hành vi này bị nghiêm cấm theo Nghị định 63/2010/NĐ-CP).

- Giới hạn số công văn yêu cầu bổ sung là 1, để doanh nghiệp chỉ phải bổ sung 1 lần.\

2.3. Đơn giản hóa thủ tục xin cấp phép nhập khẩu/đăng ký hợp quy các nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, bao bì nhập khẩu dùng cho  sản  xuất nội bộ của doanh nghiệp, không bán ra thị trường như sau:

            Không phải công bố hợp quy/chứng nhận hợp chuẩn với các nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, bao bì nhập khẩu dùng cho sản xuất nội bộ của doanh nghiệp, không bán ra thị trường. Thủ tục xin cấp phép nhập khẩu chỉ cần:

  • Tên nguyên liệu kèm mã số quốc tế (nếu có)
  • Tên, địa chỉ nhà cung cấp
  • Tiêu chuẩn nguyên liệu (của nhà sản xuất)
  • Cam kết của doanh nghiệp chỉ sử dụng nội bộ cơ sở sản xuất, chịu trách nhiệm về chất lượng và đáp ứng các quy định về ATTP.
  1. Kiến nghị: Sửa đổi Khoản 5 Điều 1 của Dự thảo bổ sung thêm Khoản 5a cho Điều 8 của Nghị định 38/2012, cụ thể như sau: “Trường hợp chỉ thay đổi các nội dung trong Bản thông tin chi tiết về sản phẩm đối với hình thức nhãn, quy cách, chất liệu bao gói, hạn dùng, chỉ tiêu chỉ điểm chất lượng, nội dung ghi nhãn không bắt buộc, địa chỉ trụ sở của tổ chức, cá nhân hay nơi sản xuất, tên tổ chức, cá nhân (trong trường hợp thay đổi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh), thay đổi nhà nhập khẩu hoặc thương nhân chịu trách nhiệm về sản phẩm (đã được sự đồng ý của cơ sở sản xuất) thì tổ chức, cá nhân được phép nộp công văn đề nghị bổ sung kèm theo xác nhận về các nội dung đã thay đổi, bổ sung của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về sản phẩm để được tiếp tục sử dụng số Giấy tiếp nhận hoặc Giấy xác nhận đã được cấp hay cấp lại. Sau 7 (bảy) ngày làm việc, nếu cơ quan tiếp nhận không có ý kiến bằng văn bản thì tổ chức, cá nhân được phép thay đổi”.

 Lý do: Trong thực tiễn sản xuất-kinh doanh, các doanh nghiệp thường xuyên phải có những thay đổi nhỏ cho sản phẩm mà không ảnh hưởng đến chất lượng như hạn dùng, chất liệu bao gói, hay thay đổi nhà nhập khẩu hoặc thương nhân chịu trách nhiệm về sản phẩm (đã được sự đồng ý của cơ sở sản xuất)... nhưng vẫn phải công bố lại, rất mất thời gian và tốn kém, trở ngại rất lớn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh mà không giúp cải thiện ATTP.

- Thông tư 19/2012-TT/BYT (sau đây gọi tắt là Thông tư 19) đã cho một số thay đổi nhỏ được phép xin bổ sung, nhưng vẫn còn những thay đổi nhỏ chưa được cho phép.

- Khoản 5a, điều 8 trong dự thảo Nghị định 38 sửa đổi chỉ cho phép thay đổi quy cách bao gói, chưa cho các thay đổi nhỏ khác

  1. Kiến nghị: Bãi bỏ yêu cầu DN phải tự gửi mẫu đi kiểm nghiệm định kỳ, và sửa đổi như sau:

- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn đã công bố, và có kế hoạch kiểm soát chất lượng phù hợp.

- Các sản phẩm nhập khẩu đã có phiếu kiểm nghiệm của nhà sản xuất và kiểm tra nhà nước tại Việt Nam cho các lô hàng nhập khẩu được phép dùng các kết quả này trong kế hoạch kiểm soát chất lượng.

Lý do:

- Về mặt quy định pháp luật của Việt Nam: Yêu cầu này trái với Luật QC&TCKT. Quy định trách nhiệm kiểm tra, thanh tra về hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật; xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật là của các cơ quan quản lý. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn đã công bố.  Tổ chức, cá nhân không có trách nhiệm tự gửi mẫu đi kiểm nghiệm, mà trách nhiệm này phải thuộc về cơ quan quản lý nhà nước

- Về thông lệ quốc tế: Yêu cầu này trái với thông lệ quốc tế vì không nước nào yêu cầu doanh nghiệp tự gửi mẫu định kỳ, mà chỉ có yêu cầu các doanh nghiệp tự xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng, khuyến khích áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GMP,  HACCP, ISO 22000). 

  1. Kiến nghị: Đề nghị bãi bỏ quy định về hợp pháp hóa lãnh sự các giấy phép, chứng chỉ. Bởi vì, theo Nghị định 38/2012/NĐ-CP và TT 19/2012/TT-BYT, nhiều chứng từ quy định trong Nghị định còn yêu cầu công chứng bản sao hoặc hợp pháp hóa lãnh sự đối với các chứng chỉ chứng nhận được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài, hoặc phiếu kiểm nghiệm được công nhận bởi tổ chức trên thế giới mà các tổ chức này đã có quyết định thừa nhận lẫn nhau và Việt Nam là thành viên của tổ chức đó. Điều này quá mức cần thiết gây kém hiệu quả và gây lãng phí cho DN và NN, kéo dài thời gian công bố, đồng thời cũng trái với Hiệp Định Thương Mại Việt Nam đã ký kết (TF/WTO, EVFTA, TPP).
  2. Kiến nghị: Bổ sung thêm mục e) tại Mục 9 Điều 1 của Dự thảo sửa đổi Khoản 1 Điều 12 của Nghị định 38: Cơ sở trung gian thương mại, kinh doanh thực phẩm nhưng không thực hiện bất kỳ hoạt động liên quan đến sản xuất, bảo quản, vận chuyển, bày bán thực phẩm.”:

Lý do: Một điều bất hợp lý trong Nghị định 38 là các cơ sở trung gian thương mại, kinh doanh thực phẩm nhưng không thực hiện bất kỳ hoạt động liên quan đến sản xuất, bảo quản, vận chuyển, bày bán thực phẩm mặc dù không có địa điểm sản xuất, kinh doanh, không trực tiếp thực hiện bất kỳ hoạt động nào liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhưng cũng vẫn phải xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP.

  1. Kiến nghị: về kiểm tra hàng khi nhập khẩu

- Vấn đề kiểm tra từng lô hàng NK: Theo quy định hiện hành, từng lô hàng NK lại phải kiểm tra, trong đó, đối với sản phẩm động vật hoặc có chứa sản phẩm động vật còn chịu 2 loại kiểm tra là kiểm dịch thú y (Bộ NNPTNT quản lý) và kiểm tra ATTP. Quy định này quá phức tạp, gây tốn kém không cần thiết cho DN. Trong khi chưa sửa Luật ATTP, căn cứ yêu cầu của NQ 19 về áp dụng quản lý rủi ro, chế độ DN ưu tiên trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá nhập khẩu, đề nghị bổ sung vào khoản 2 (Các trường hợp sau đây được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu) Điều 14 NĐ 38 nội dung sau:

  1. g) Miễn kiểm tra đối với sản phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chí: đã công bố hợp quy, do người có lịch sử tuân thủ tốt pháp luật ATTP nhập khẩu, mặt hàng quen thuộc, tại thời điểm làm thủ tục nhập khẩu không có các dấu hiệu, thông tin về rủi ro ATTP. Việc kiểm tra được thực hiện tại khâu lưu thông.
  2. h) Miễn kiểm tra hoặc không kiểm tra tại khâu thông quan, thực hiên kiểm tra tại khâu lưu thông đối với sản phẩm, hàng hoá chế biến sâu, bao gói công nghiệp

- Đề nghị bãi bỏ quy định kiểm 100% lô hàng, thay vào đó là triệt để áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro theo NQ19 và thông lệ quốc tế nhằm kiểm tra theo tỷ lệ % dựa trên lịch sử đảm bảo ATTP, các giấy Chứng thư/kiểm dịch kèm lô hàng, xuất xứ nguồn gốc ...

- Làm rõ khoản 3 điều 14 Nghị định 38: Các lô hàng nhập khẩu chỉ phải kiểm tra chất lượng 1 lần bởi một bộ chủ quản duy nhất. Nếu có 1 sản phẩm trong cả lô hàng là TP tươi sống thì cả lô hàng chỉ chịu sự kiểm tra nhà nước bởi Bộ NNPTNT.

- Quy định rõ về cấp xác nhận kiểm tra giảm: trong vòng 3 ngày cơ quan quản lý phải xác nhận, nếu không cấp phải nêu rõ lý do và cơ sở pháp lý của lý do đó. Nếu quá 3 ngày cơ quan quản lý không trả lời, cơ quan hải quan chấp thuận cho doanh nghiệp được miễn kiểm tra

 Lý do: Theo NĐ 38, từng lô hàng thực phẩm khi nhập khẩu đều phải kiểm tra chất lượng. Đối với sản phẩm động vật hoặc có chứa sản phẩm động vật còn chịu thêm kiểm dịch thú y (Bộ NNPTNT quản lý theo Thông tư số 25/2016/TT-BNNPTNT ngày 30/6/2016), gây tốn kém không cần thiết cho DN, mặc dù khoản 3 điều 14 Nghị định 38 đã quy định các mặt hàng thuộc thẩm quyền quản lý của 2 bộ trở lên thì Bộ y tế kiểm tra chất lượng, riêng trường hợp nếu có thực phẩm tươi sống thì do Bộ NNPTNT kiểm tra chất lượng.

- Thông tư 52/2015 đã quy định về việc kiểm tra giảm chỉ cần 2 lô liên tiếp đạt chất lượng và sau 3 ngày có trả lời, nhưng thực tế thủ tục để DN xin kiểm tra giảm cũng không hề dễ dàng, nhiều khi phải mất hàng tháng mới được xác nhận.  

  1. Kiến nghị: Bổ sung vào Điều 15 quy định về chế độ kiểm tra tại nguồn với nội dung: “Áp dụng chế độ kiểm tra tại nguồn, tại gốc (kiểm tra các giai đoạn nuôi trồng, chế biến tại nước sản xuất, nước xuất khẩu). Chế độ này áp dụng cho những DN có nhu cầu và trả chi phí cho việc kiểm tra.”


Đơn vị phản hồi: Bộ Y Tế

Công văn: , Ngày:

Nội dung trả lời:

Ý kiến bạn đọc (0)