Hiệp hội Mía đường Việt Nam mới đây đã đưa ra dự báo lượng đường dư
năm nay là 300.000 tấn, gấp hơn bốn lần so với dự báo của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT). Tại sao lại có sự khác
biệt lớn như vậy?
- Ông Hà Hữu Phái: Trước đó, hiệp hội ước tính nguồn cung đường năm
2012 khoảng 1,6 triệu tấn, trong khi do suy thoái kinh tế nên sức tiêu
thụ đường năm nay dự báo chỉ khoảng 1,3 triệu tấn, dư 300.000 tấn.
Tuy nhiên, Vụ Công nghiệp nhẹ, Bộ Công Thương sau đó cho hay các doanh
nghiệp sử dụng đường như bánh kẹo, bia, sữa, nước ngọt trong nước theo
kế hoạch sẽ tăng sản lượng sản xuất lên khoảng 30% so với năm ngoái.
Điều này làm cho nhu cầu tiêu thụ đường tăng lên tương ứng. Chính vì
vậy, hai bộ đã nhất trí đưa ra con số dư đường năm nay khoảng
70.000-100.000 tấn, thay vì 300.000 tấn như dự báo trước đó của hiệp
hội.
Giá đường xuất kho hiện khoảng 16.000 đồng/ki lô gam, trong khi giá
đường tại Sở Giao dịch London (LIFFE) đóng cửa ngày 23-2 là 652 đô la
Mỹ/tấn, tức gần 14.000 đồng/ki lô gam. Vậy đường Việt Nam dự kiến xuất
với mức giá bao nhiêu?
- Đúng là với mức giá và chất lượng đường như hiện nay thì đường Việt
Nam không thể cạnh tranh với các nước có nền sản xuất mía đường lớn như
Thái Lan, Brazil hay Ấn Độ. Tuy nhiên, hy vọng lớn nhất của chúng ta
hiện vẫn là xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch.
Theo thông tin từ phía Trung Quốc, hiện nước này đang thiếu 2 triệu tấn
đường và có chủ trương mua dự trữ 1 triệu tấn. Tuy nhiên, thị trường
này có sự điều chỉnh chính sách rất linh hoạt, lúc thả, lúc thắt, nên doanh nghiệp phải hết sức cẩn trọng khi xuất khẩu hàng hóa sang đây.
Nếu là xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc sao lại phải kiến nghị tới liên bộ NN&PTNT và Bộ Công Thương?
- Chúng ta xuất sang Trung Quốc khoảng hơn 100.000 tấn đường trong năm
2011. Hồi cuối năm ngoái do nhu cầu tiêu thụ đường của Trung Quốc tăng
đột biến nên diễn ra tình trạng các doanh nghiệp Việt Nam ào ào bán
đường sang đây. Do lo ngại lượng đường trong nước thiếu hụt, Bộ Công
Thương đã yêu cầu kiểm soát lượng đường xuất sang Trung Quốc theo đường
tiểu ngạch làm cho tiến độ xuất khẩu chậm. Chính vì vậy, 30.000 tấn
đường được cấp phép xuất khẩu trước đó hiện vẫn chưa được xuất hết.
Ông có nghĩ đến một kịch bản xuất đường giá rẻ để giảm nguồn cung nhằm giữ giá đường trong nước ở mức cao?
- Năm 2002-2003, do sản xuất trong nước và thế giới dư thừa, đường lậu
của Trung Quốc còn chảy sang Việt Nam, hiệp hội đã dùng biện pháp xuất
khẩu rẻ khoảng 140.000 tấn đường để cứu giá đường trong nước. Tuy nhiên,
đây là giải pháp tình thế và các doanh nghiệp sản xuất mía đường hồi đó đều lỗ.
Trong tương lai, chúng ta nên nghĩ đến một chiến lược xuất khẩu dài hơi
vì theo dự báo của Bộ NN&PTNT, sản lượng đường sẽ tiếp tục tăng
trong những năm tới do các nhà máy tăng công suất, chưa kể đến lượng
đường được sản xuất ở Lào, Campuchia chuyển về.
Trong khi doanh nghiệp phải tìm cách xuất khẩu đường, thì thị
trường trong nước hiện phải chia phần khá nhiều với đường nhập lậu từ
Thái Lan. Ông nhìn nhận nghịch lý này như thế nào?
- Sản lượng đường của Thái Lan rất lớn, trung bình khoảng 10 triệu
tấn/năm, một phần rất lớn lại được xuất tự do. Ngoài ra, mua đường của
các nước ngoài ASEAN phải chịu thuế rất cao, 40-60% đối với đường kính,
trong khi mua của Thái Lan chỉ 5% thuế.
Chính vì vậy, dù theo con đường nào thì giá đường Thái Lan vẫn rất rẻ.
Kịch bản dư cung, báo lỗ và đề nghị xuất khẩu không phải chỉ xảy ra năm nay. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp vẫn đầu tư vào mía đường và các doanh nghiệp mía đường niêm yết trên sàn chứng khoán vẫn có những mức tăng trưởng và lợi nhuận cao. Ông có nhận định gì về điều này?
- Đúng là có nhiều công ty sản xuất đường có lãi lớn, thậm chí có công
ty lãi hơn 100 tỉ đồng mỗi năm. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều công ty làm
ăn khó khăn và có thể đến bờ vực phá sản do ngành đường trong nước phát
triển không đồng đều.
Ví dụ các doanh nghiệp khu vực ĐBSCL như Cà Mau, Kiên Giang... gặp rất
nhiều khó khăn do mua mía trôi nổi với giá cao khoảng 1-1,2 triệu
đồng/tấn, chữ đường lại thấp. Trong khi các công ty phía Bắc mua mía
nguyên liệu với giá thấp hơn, từ 900.000-1 triệu đồng/tấn mà chất lượng
cao hơn.