VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Friday, 06/11/2026 | English | Vietnamese

Lạng Sơn: Cấp C/O bắt đầu từ việc kiểm soát nguyên liệu

Friday, 06/11/2026

Muốn được cấp C/O, doanh nghiệp không chỉ cần xác định đúng quy tắc xuất xứ mà còn phải chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu và tính thống nhất của hồ sơ sản xuất.

Không chỉ là câu chuyện kê khai hồ sơ

Một lô hàng xuất khẩu muốn được hưởng ưu đãi thuế quan theo hiệp định thương mại tự do (FTA) phải đáp ứng quy tắc xuất xứ tương ứng. Nhưng để chứng minh hàng hóa đáp ứng điều kiện đó, doanh nghiệp cần chuẩn bị một hệ thống thông tin, chứng từ xuyên suốt từ nguyên liệu đầu vào đến quá trình sản xuất. Đây cũng là khâu đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ quan cấp C/O.

Từ thực tiễn triển khai nhiệm vụ trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa tại địa phương, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Đinh Kỳ Giang, Phó Giám đốc Sở Công Thương Lạng Sơn cho biết, doanh nghiệp đã quan tâm hơn đến việc thực hiện quy tắc xuất xứ để phục vụ xuất khẩu và tận dụng ưu đãi thuế quan. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định cụ thể vẫn cần được hướng dẫn, nhất là khi mỗi hiệp định và từng nhóm hàng có yêu cầu riêng.

“Quy tắc xuất xứ khác nhau giữa các hiệp định và từng mặt hàng, nên doanh nghiệp phải xác định đúng mã số hàng hóa, tiêu chí xuất xứ tương ứng”, ông Giang phân tích.

Ông Đinh Kỳ Giang, Phó Giám đốc Sở Công Thương Lạng Sơn

Ông Đinh Kỳ Giang, Phó Giám đốc Sở Công Thương Lạng Sơn

Điểm đáng chú ý là doanh nghiệp không thể sử dụng một cách hiểu hoặc một bộ tiêu chí chung cho tất cả thị trường. Cùng một sản phẩm nhưng khi xuất khẩu sang các thị trường theo những FTA khác nhau, yêu cầu về xuất xứ có thể khác nhau. Vì vậy, việc xác định đúng mã HS, đối chiếu quy tắc cụ thể và lựa chọn tiêu chí phù hợp phải được thực hiện trước khi lập hồ sơ đề nghị cấp C/O.

Sau bước xác định tiêu chí là bài toán chứng minh nguồn gốc nguyên liệu. Với những doanh nghiệp thu mua qua nhiều đầu mối, việc tập hợp chứng từ không đơn giản chỉ là lưu lại hóa đơn mua hàng. Thông tin về nhà cung cấp, nguồn gốc nguyên liệu và các tài liệu liên quan cần đủ cơ sở để đối chiếu khi thực hiện quy tắc xuất xứ.

“Việc thu thập chứng từ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu còn khó khăn, nhất là nguyên liệu thu mua qua nhiều đầu mối; thông tin, chứng từ từ nhà cung cấp chưa đầy đủ”, ông Giang chia sẻ.

Một vấn đề khác nằm ở sự liên kết giữa các tài liệu trong bộ hồ sơ. Bảng kê nguyên liệu, mô tả quy trình sản xuất và nội dung kê khai đề nghị cấp C/O cần phản ánh thống nhất quá trình hình thành sản phẩm. Nếu thông tin giữa các tài liệu chưa khớp, doanh nghiệp phải bổ sung hoặc giải trình, kéo dài thời gian xử lý.

Những vướng mắc này cho thấy, chất lượng hồ sơ C/O phụ thuộc đáng kể vào cách doanh nghiệp quản lý hoạt động thu mua và sản xuất. Nếu chỉ bắt đầu rà soát chứng từ khi chuẩn bị xuất khẩu, việc hoàn thiện hồ sơ sẽ khó chủ động, nhất là với những mặt hàng có nguồn nguyên liệu qua nhiều khâu trung gian.

Đưa quản lý xuất xứ về ngay khâu sản xuất

Từ thực tế trên, yêu cầu đặt ra là chuyển từ cách tiếp cận xử lý hồ sơ khi phát sinh nhu cầu sang hướng hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện và chuẩn bị điều kiện chứng minh xuất xứ ngay trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

Ông Đinh Kỳ Giang cho biết: “Sở xác định trọng tâm hỗ trợ là hướng dẫn doanh nghiệp hiểu đúng quy tắc xuất xứ và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ ngay từ đầu”. Cùng với đó, doanh nghiệp cần chủ động kiểm soát nguồn nguyên liệu, lưu trữ chứng từ để việc chứng minh xuất xứ được rõ ràng, chính xác.

Muốn được cấp C/O, doanh nghiệp không chỉ cần xác định đúng quy tắc xuất xứ mà còn phải chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu và tính thống nhất của hồ sơ sản xuất.

Muốn được cấp C/O, doanh nghiệp không chỉ cần xác định đúng quy tắc xuất xứ mà còn phải chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu và tính thống nhất của hồ sơ sản xuất.

Với cơ quan quản lý, hướng dẫn doanh nghiệp không nên dừng ở việc phổ biến quy định mà cần đi vào từng nội dung nghiệp vụ như cách xác định mã HS, tra cứu quy tắc xuất xứ theo từng FTA, chuẩn bị bảng kê nguyên liệu, mô tả quy trình sản xuất và kiểm tra tính thống nhất của chứng từ. Đây là những khâu trực tiếp quyết định mức độ hoàn chỉnh của hồ sơ.

Về phía doanh nghiệp, việc kiểm soát nguồn nguyên liệu cần được xem là một phần của quản trị sản xuất. Thông tin nhà cung cấp, chứng từ mua nguyên liệu, định mức sử dụng và quy trình sản xuất cần được lưu trữ có hệ thống. Khi có yêu cầu chứng minh xuất xứ, doanh nghiệp sẽ có căn cứ để đối chiếu, thay vì phải tập hợp lại tài liệu từ nhiều đầu mối.

Cũng cần phân biệt giữa truy xuất nguồn gốc và chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Truy xuất giúp nhận diện, theo dõi nguồn gốc và quá trình lưu chuyển của nguyên liệu, sản phẩm; còn việc cấp C/O phải căn cứ vào quy tắc xuất xứ cụ thể của mặt hàng và hiệp định liên quan. Hai hoạt động có sự hỗ trợ lẫn nhau nhưng không thể thay thế cho nhau.

Trong quá trình thực thi các FTA, khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ là một phần năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. C/O không chỉ giúp hàng hóa có cơ hội hưởng ưu đãi thuế quan mà còn đòi hỏi doanh nghiệp minh bạch hơn về nguồn nguyên liệu, tổ chức sản xuất và quản lý hồ sơ. Vì vậy, tháo gỡ vướng mắc trong cấp C/O cần bắt đầu từ chính những công việc diễn ra trước khi doanh nghiệp nộp hồ sơ.

Có C/O không đồng nghĩa hàng hóa đương nhiên được hưởng ưu đãi thuế quan. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ của từng hiệp định, từ tiêu chí về nguyên liệu, công đoạn sản xuất đến chứng từ chứng minh. Nếu không đáp ứng, hàng hóa có thể không được hưởng thuế suất ưu đãi dù đã có chứng nhận xuất xứ.

TheoNgọc Hoa (Báo Công thương)

Maybe you are interested