Tel: +84 24 35742022 | Fax: +84 24 35742020

Về chính sách ưu đãi đầu tư đối với Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển

Thứ ba, 20-05-2019 | 09:24:00 AM GMT+7 Bản in

Tên kiến nghị: Về chính sách ưu đãi đầu tư đối với Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển

Tình trạng: Phản hồi chưa đầy đủ

Đơn vị kiến nghị: 1. Công ty TNHH Enkei Việt Nam. Địa chỉ: Lô N-2 và N-3 Khu Công nghiệp Thăng Long, Xã Võng La, Huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội 2. Công ty TNHH Sumidenso Việt Nam Địa chỉ tại Lô XN 03,04,13,14,15,16, Khu Công nghiệp Đại An, phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Công văn: 1126/ PTM - VP, Ngày: 17/05/2019

Nội dung kiến nghị:

Doanh nghiệp đã nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng về các chính sách ưu đãi, bảo đảm đầu tư của Việt Nam đối với ngành công nghệ hỗ trợ và nhận thấy rằng các chính sách ưu đãi này đã và đang khuyến khích EKV cũng như cộng đồng doanh nghiệp tích cực đầu tư cho lĩnh vực sản xuất công nghệ hỗ trợ ưu tiên phát triển tại Việt Nam theo đúng chủ trương và mục tiêu mà Đảng, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đã đề ra.

Hiện nay hai doanh nghiệp (Công ty TNHH Enkei Việt Nam và Công ty TNHH Sumidenso Việt Nam) đều đang sản xuất các sản phẩm công nghệ hỗ trợ (CNHT) và đều được Bộ Công thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi Dự án sản xuất sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển, nêu rõ Dự án đủ điều kiện xem xét hưởng các ưu đãi theo quy định về xử lý chuyển tiếp ưu đãi theo Nghị định 111/2015/NĐ-CP, trong đó có ưu đãi về thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và chuyển tiếp ưu đãi thuế TNDN được quy định tại Luật số 71/2014/QH13 (“Luật số 71”) sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế (hiệu lực từ 01/01/2015). Các Giấy xác nhận này đều còn hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, doanh nghiệp được biết tại Hội nghị đối thoại về chính sách và thủ tục hành chính thuế, hải quan năm 2018 vừa qua, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế đã trả lời rằng các Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm CNHT thực hiện trước thời điểm 01/01/2015 (như Dự án đầu tư ban đầu năm 2007 của chúng tôi) không được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo diện lĩnh vực sản xuất sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển theo quy định tại Luật số 71. Qua trao đổi với một số doanh nghiệp khác trong Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cũng như qua các thông tin doanh nghiệp có được từ cộng đồng các nhà đầu tư tại Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực CNHT đến từ các quốc gia khác (Việt Nam, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc), Tổng cục Thuế và một số Cục Thuế địa phương cũng đã ban hành một số văn bản trả lời một số doanh nghiệp, trong đó thể hiện quan điểm nói trên.

Theo doanh nghiệp, quan điểm nêu trên của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của EKV nói riêng và các doanh nghiệp đang đầu tư sản xuất trong lĩnh vực CNHT tại Việt Nam nói chung trong việc thụ hưởng ưu đầu tư của Chính phủ Việt Nam. Quan điểm này hoàn toàn không phù hợp với các quy định về bảo đảm ưu đãi đầu tư và thuế tại các văn bản pháp luật về đầu tư và thuế như Điều 13 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 (“Luật Đầu tư số 67”), Khoản 9 Điều 1 Luật số 71:

- Điều 13 Luật Đầu tư số 67: “Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư cao hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án”.

- Khoản 9 Điều 1 Luật số 71: “Trường hợp pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp có thay đổi mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung thì doanh nghiệp được quyền lựa chọn hưởng ưu đãi về thuế suất và về thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung cho thời gian còn lại”.

- Điều 16 Nghị đinh 111/2015/NĐ-CP: “Các dự án đang sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển tiếp tục được hưởng các ưu đãi hiện có và được hưởng các ưu đãi mới theo quy định tại Nghị định này.”

Vì vậy, các doanh nghiệp cho rằng vướng mắc nói trên nếu không được Chính phủ có kết luận, chỉ đạo rõ ràng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đầu tư tại Việt Nam cũng như chủ trương thúc đẩy, phát triển ngành CNHT mà Chính phủ Việt Nam đã đề ra tại Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18/01/2017 về Chương trình phát triển CNHT từ năm 2016 đến năm 2025, đồng thời, có thể dẫn đến sự suy giảm các nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam. Hơn nữa, không phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các ngành, các địa phương phải tạo môi trường kinh doanh tốt hơn nữa, thuận lợi hơn nữa, loại bỏ các rào cản gây khó dễ, chậm trễ, vô trách nhiệm, sợ trách nhiệm. Trong đó, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế, chính sách, quy định pháp luật, củng cố niềm tin cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp.


Đơn vị phản hồi: Bộ Tài chính; Văn phòng Chính phủ

Công văn: 3160/TCT - CS, Ngày: 08/08/2019

Nội dung trả lời:

  • Bộ tài chính

Tại Khoản 5 và Khoản 9 Điều 1 Luật số 71/2014/QH13 quy định:

"5 Bổ sung điểm d và điểm e vào khoản 1 Điêu 13 như sau:

đ) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

- Sản phẩm công nghệ hỗ trợ cho công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ cao;

- Sản phẩm công nghệ hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt - may; da -giầy; điện tử - tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Ẳu (EU) hoặc tương đương.

Chính phủ quy định Danh mục sản phẩm công nghiệp hễ trợ ưu tiên phát friển qựy định tại điểm này.

  1. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 2 Luật số 32/2013/QH13 như sau:

“3. Doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểm cấp phép hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trường hợp pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp có thay đổi mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung thì doanh nghiệp được quyền lựa chọn hưởng ưu đãi về thuế suất và về thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp phép hoặc theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung cho thời gian còn lại.

- Tại khoản 20. Điều 1 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 20 của Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013) quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế quy định:

“2. Doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điếm cấp' phép hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trường hợp pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp có thay đổi mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi bổ sung thì doanh nghiệp được quyền lựa chọn hưởng ưu đãi về thuế suất và về thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của pháp luật tại thời điểm được phép đầu tư hoặc theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung cho thời gian còn lại kể từ khi pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành.

  1. Doanh nghiệp có dự án đầu tư mà tính đến hết kỳ tính thuế năm 2013 còn đang trong thời gian hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, kể cả trường hợp dự án đầu tư đã được cấp Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đối với dự án đầu tư trong nước gắn với việc thành lập doanh nghiệp mới có vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện) nhưng chưa được hưởng ưu đãi theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được hưởng ưu đãi cho thời gian còn lại theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đó. Trường hợp đang hưởng ưu đãi theo đầu tư mở rộng thì tiếp tục hưởng ưu đãi theo đầu tư mở rộng; trường hợp đang hường ưu đãi theo đầu tư mới thì tiếp tục hưởng ưu đãỉ theo đầu tư mới; trường hợp mức tm đãi tại Nghị định này cao hơn mức ưu đãi đang hưởng (kể cả trường hợp thuộc diện nhưng chưa được hưởng) thì được chuyển sang áp dụng ưu đãi theo Nghị định này cho thời gian còn lại.
  2. Doanh nghiệp có dự án đầu tư mở rộng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép đầu tư hoặc đã thực hiện đầu tư trong giai đoạn 2009 - 2013, tính đến hết kỳ tính thuế năm 2014 đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của Luật số 32/2013/QH13 thì được hưởng ưu đãi thuế đổi với đầu tư mở rộng theo quy định của Nghị định này cho thời gian còn lại kể từ kỳ tính thuế năm 2015.
  3. Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư vào khu công nghiệp trong giai đoạn 2009 - 2013 thì được hưởng ưu đãi thuế theo quy định của Luật số 32/2013/QH13 cho thời gian còn lại.kể từ kỳ tính thuế năm 2015.
  4. Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào địa bàn mà trước ngày 01 tháng 01 năm 2015 chưa thuộc địa bàn ưu đãi thuế (khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao và các địa bàn ưu đãi khác) nay thuộc địa bàn ưu đãi thuế quy định tại Nghị định này thì được hưởng ưu đãi thuế cho thời gian còn ỉạỉ kể từ kỳ tính thuế năm 2015.

đ) Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào địa bàn được chuyển đổi thành địa bàn ưu đãi thuế sau ngày 01 tháng 01 năm 2015 thì được hưởng ưu đãi thuế cho thời gian còn lại kể từ khỉ chuyển đổi

Căn cứ các quy định nêu ừên, dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thành lập trước ngày 01/01/2015 không ứiuộc đối tượng chuyển tiếp hưởng ưu đãi theo điều kiện sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ quy định tại Luật số 71/2014/QH13.

Ý kiến bạn đọc (0)