Tel: +84 24 35742022 | Fax: +84 24 35742020

Vì sao doanh nghiệp xuất khẩu xi măng lại phải nộp thuế?

Thứ năm, 22-12-2016 | 09:26:00 AM GMT+7 Bản in
(Chinhphu.vn) – Công ty CP Nhịp Cầu Thế Giới (TP. Hà Nội) cho rằng, xi măng là hàng hóa thành phẩm khi xuất khẩu không phải chịu thuế xuất khẩu, việc thu thuế xuất khẩu sẽ dẫn đến việc thuế chồng thuế và làm khó cho doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này.

Theo phản ánh của Công ty CP Nhịp Cầu Thế Giới, Công ty có tham khảo Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan thì mặt hàng xi măng mã HS 25.23 không có trong danh mục chịu thuế xuất khẩu.

Còn tại số thứ tự 211 của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 122/2016/NĐ-CP, hàng hóa là “Vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm không quy định ở trên có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên” có thuế suất thuế xuất khẩu là 5%.

Theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp, thành phẩm được định nghĩa “là những sản phẩm đã kết thúc quá trình chế biến do các bộ phận sản xuất của doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công xong đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và nhập kho”.

Xi măng là ngành phải đầu tư vào dây chuyền công nghệ hiện đại, vốn đầu tư rất lớn và sử dụng nhiều lao động. Xi măng khi sản xuất và đưa ra lưu thông phải có kiểm định rất kỹ càng theo tiêu chuẩn TCVN hoặc ASTM… và được đóng gói để bán, lưu thông ra thị trường.

Theo quan điểm của một số hãng kiểm toán, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không quy định về hàng hóa thành phẩm có chi phí tài nguyên khoáng sản cộng chi phí năng lượng trên 51% phải chịu thuế xuất khẩu mà chỉ quy định đối với trường hợp hàng hóa xuất khẩu để gia công tại nước ngoài có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì không được miễn thuế xuất khẩu.

Căn cứ các phân tích nêu trên, Công ty hiểu rằng, theo Nghị định số 122/2016/NĐ-CP, xi măng là hàng hóa thành phẩm khi xuất khẩu không phải chịu thuế xuất khẩu.

Ngoài ra, các công ty thương mại khi xuất khẩu xi măng sẽ không được hoàn thuế GTGT theo Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/9/2016 của Bộ Tài chính.

Việc này gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, nếu không làm rõ để doanh nghiệp phải trả thuế xuất khẩu thì ngành xi măng không thể cạnh tranh với các nước khác trong việc xuất khẩu, mất đi nguồn thu ngoại tệ rất đáng kể cho đất nước. Việc thu thuế xuất khẩu sẽ dẫn đến việc thuế chồng thuế, càng làm khó doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này.

Do vậy, qua Hệ thống tiếp nhận, trả lời kiến nghị của doanh nghiệp trên Cổng TTĐT Chính phủ, Công ty CP Nhịp Cầu Thế Giới đề nghị cơ quan chức năng giải đáp rõ về vấn đề thuế xuất khẩu xi măng và việc hoàn thuế GTGT cho các doanh nghiệp thương mại mua hàng để xuất khẩu.

Về vấn đề này, Bộ Tài chính trả lời như sau:

Đối với quy định nhóm “Vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm không quy định ở trên có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên” tại Biểu thuế xuất khẩu ban hành kèm theo Nghị định số 122/2016/NĐ-CP, theo quy định tại Biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất thuế xuất khẩu đối với từng nhóm hàng chịu thuế ban hành kèm theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (số thứ tự 211) thì vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm không quy định trong các dòng thuế đã mô tả trong Danh mục (có số thứ tự từ 1 đến 210) có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên có khung thuế suất 5-20%.

Về việc miễn thuế, Điều 11 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định: “1. Hàng hóa xuất khẩu để gia công, sản phẩm gia công nhập khẩu theo hợp đồng gia công được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định tại Khoản 6, Điều 16 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm:

a)… Hàng hóa xuất khẩu để gia công là tài nguyên, khoáng sản, sản phẩm có tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên và hàng hóa xuất khẩu để gia công thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu thì không được miễn thuế xuất khẩu.

d) Sản phẩm đặt gia công ở nước ngoài khi nhập khẩu trở lại Việt Nam được miễn thuế nhập khẩu đối với phần trị giá của nguyên liệu, vật tư, linh kiện xuất khẩu cấu thành sản phẩm gia công và phải chịu thuế đối với phần trị giá còn lại của sản phẩm theo mức thuế suất thuế nhập khẩu của sản phẩm gia công nhập khẩu”.

Biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ban hành kèm theo Nghị định số 122/2016/NĐ-CP chỉ quy định mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; việc miễn, giảm thuế thực hiện theo quy định tại Nghị định số 134/2016/NĐ-CP.

Mô tả của nhóm có số thứ tự 211 Biểu thuế xuất khẩu tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 122/2016/NĐ-CP là “vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm (không quy định tại các dòng có số thứ tự từ 1-20 đã liệt kê tại Biểu thuế xuất khẩu) có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên” với mức thuế suất thuế xuất khẩu 5% (bằng mức thuế suất thấp nhất) là đúng theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Do vậy, mặt hàng xi măng xuất khẩu nếu có giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên, khi xuất khẩu phải nộp thuế xuất khẩu với mức thuế suất 5%.

Điều kiện hoàn thuế GTGT

Theo quy định tại Khoản 23, Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế TTĐB và Luật Quản lý thuế thì “Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT nên cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT không được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào.

Khoản 3, Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 quy định cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:

“b) Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 1/7/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư”.

“Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý, trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật Hải quan”.

Theo Chinhphu.vn

Ý kiến bạn đọc (0)