VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Chủ nhật, 15/02/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpTín dụng 2026: Tăng trưởng cao nhưng phải đi vào thực chất

Tín dụng 2026: Tăng trưởng cao nhưng phải đi vào thực chất

06:02:00 PM GMT+7Thứ 7, 14/02/2026

Mục tiêu tăng trưởng GDP tối thiểu 10% trong năm 2026 đặt ra yêu cầu lớn đối với chính sách tiền tệ. PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP.HCM nhấn mạnh, tăng trưởng tín dụng không thể tiếp tục chạy theo tốc độ hay những con số bề nổi, mà phải đi vào thực chất. Trong bối cảnh dư nợ tín dụng/GDP đã ở mức cao, thanh khoản hệ thống chịu áp lực, dòng vốn cần được định hướng vào sản xuất – kinh doanh và các động lực tăng trưởng, thay vì mở rộng ồ ạt để đổi lấy tăng trưởng ngắn hạn.

Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng GDP được đặt ở mức tối thiểu 10%, song tăng trưởng tín dụng dự kiến chỉ khoảng 15%, thấp hơn mức 19% của năm 2025. Nhiều quan điểm cho rằng tăng trưởng tín dụng ở mức thấp như vậy sẽ không thể hỗ trợ cho tăng trưởng.

Tăng trưởng tín dụng thấp là cần thiết

Trao đổi với VietnamFinance về chủ đề này, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng việt hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở thời điểm hiện tại là cần thiết.

Tín dụng 2026: Tăng trưởng tín dụng phải đi vào thực chất.

Vị chuyên gia nhận định rằng định hướng tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 cần hướng tới chất lượng chứ không chỉ là tốc độ đơn thuần.

“Ngân hàng Việt Nam đang đứng trước thách thức cân bằng ba mục tiêu gồm hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống, và vì vậy tăng trưởng tín dụng không chỉ đơn thuần là “đẩy mạnh con số” mà cần tập trung dòng vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất thay vì thuần túy mở rộng số lượng tín dụng”, ông Huân nói.

Theo ông Huân, sau một năm tín dụng tăng nhanh, nhiều ngân hàng đang bước vào năm 2026 với thanh khoản hạn chế và dư địa giảm lãi suất bị thu hẹp, làm thách thức cho hoạt động cho vay và khả năng chịu tải của hệ thống.

Đồng quan điểm, TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, việc “phanh” tốc độ tín dụng trong bối cảnh hiện nay là hợp lý và cần thiết.

Trước ý kiến cho rằng Ngân hàng Nhà nước giảm trần tăng trưởng tín dụng do lo ngại lạm phát quay trở lại, TS. Lê Xuân Sang cho rằng nhận định này chưa thật sự thỏa đáng. Năm 2025, CPI chỉ tăng 3,31%, thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu Quốc hội đề ra (4–4,5%), dù chịu áp lực từ điều chỉnh giá y tế, giáo dục, đầu tư công tăng mạnh và tín dụng tăng tới 19% – mức cao nhất nhiều năm. Ông đồng tình với phân tích của Cục Thống kê về nguyên nhân kiểm soát tốt lạm phát, đồng thời nhấn mạnh vai trò điều hành linh hoạt, phối hợp hiệu quả giữa chính sách tiền tệ và tài khóa của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước theo chỉ đạo của Thủ tướng.

Bên cạnh đó, theo ông Sang sự phát triển mạnh của thương mại điện tử cũng góp phần quan trọng kiềm chế lạm phát. Khi mua sắm trực tuyến trở nên phổ biến, giá cả minh bạch hơn và ít phụ thuộc vào không gian địa lý, người tiêu dùng có thêm lựa chọn. Nếu thương mại truyền thống tăng giá do tác động của xăng dầu, tiền lương hay điện, người dân có thể chuyển sang “chợ online”. Sự cạnh tranh này khiến các kênh bán lẻ truyền thống khó có thể tùy tiện tăng giá. Hệ thống siêu thị mở rộng, với lợi thế về giá và chất lượng dịch vụ, cũng góp phần bình ổn thị trường.

Vì vậy, việc hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ 19% xuống 15% không xuất phát từ nỗi lo lạm phát, mà nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống tổ chức tín dụng. Nền kinh tế Việt Nam hiện phụ thuộc lớn vào vốn vay ngân hàng, với tỷ lệ tín dụng/GDP trên 145% – mức cao so với nhiều quốc gia, tiềm ẩn rủi ro hệ thống và đòi hỏi phải tái cân bằng với các kênh vốn khác.

“Nhìn lại 40 năm qua, không phải lúc nào tín dụng tăng cũng kéo theo tăng trưởng kinh tế tương ứng và ngay lập tức, trong khi rủi ro lại hiện hữu rõ ràng do độ trễ chính sách. Năm 2025, tín dụng đã tăng 19%, lượng vốn bơm ra cần thời gian để phát huy hiệu quả. Nếu tiếp tục duy trì mức tăng cao trên nền cao của năm trước, rủi ro sẽ lớn hơn.

Đáng chú ý, tín dụng thời gian qua chủ yếu chảy vào thương mại, dịch vụ, đặc biệt là bất động sản – các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Khi tốc độ tăng được điều chỉnh, dòng vốn có điều kiện tập trung hơn cho sản xuất và các lĩnh vực ưu tiên, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống”, ông Sang khẳng định.

Tín dụng tăng trưởng nóng sẽ dẫn đến nợ xấu

TS. Lê Xuân Sang nhấn mạnh kinh nghiệm quốc tế cho thấy tăng trưởng tín dụng quá nóng dễ dẫn tới nợ xấu, bong bóng tài sản và bất ổn tài chính. Khi vốn đổ vào quá mạnh, năng lực sản xuất có thể tăng nhanh nhưng cũng dễ gây dư thừa, kéo theo sụt giảm giá cả, doanh nghiệp thua lỗ, tồn kho lớn và nợ xấu gia tăng. Phân bổ vốn kém hiệu quả còn khiến lợi nhuận trên vốn thấp hơn chi phí tín dụng, dẫn tới mất cân đối và suy yếu hệ thống tài chính.

Tín dụng tăng trưởng nóng sẽ dẫn đến nợ xấu.

Về ngưỡng tín dụng phù hợp, ông cho rằng không có một chuẩn chung cho mọi nền kinh tế. Tại EU, dư nợ tín dụng dưới 92% GDP được xem là ít rủi ro; xấp xỉ 100% GDP thì nguy cơ gia tăng.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức 1,5–2 lần tăng trưởng kinh tế được coi là hợp lý. Với dư nợ tương đương khoảng 145% GDP, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% trong năm 2026, nếu GDP tăng tối thiểu 10%, là phù hợp.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay, Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026 yêu cầu phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; điều hành theo nguyên tắc thị trường, tránh lạm dụng biện pháp hành chính.

Chính sách tài khóa được mở rộng có trọng tâm, còn chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt; lãi suất và tỷ giá được điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô. Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu định hướng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào sản xuất – kinh doanh và các động lực tăng trưởng, đồng thời kiểm soát lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Kích hoạt ba nguồn vốn chiến lược

Về dài hạn, ông Sang cho rằng cần giảm dần sự phụ thuộc vào vốn ngân hàng bằng cách phát triển mạnh các kênh huy động qua thị trường tài chính như chứng khoán, trái phiếu. Dù thị trường chứng khoán đã phát triển đáng kể, vốn hóa mới đạt khoảng 390 tỷ USD (82% GDP), vẫn thấp hơn nhiều nước; lượng vốn doanh nghiệp huy động hàng năm còn khiêm tốn.

Trong bối cảnh vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tỷ giá ổn định và thị trường chứng khoán được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp năm 2025, dư địa huy động vốn qua kênh này còn rất lớn.

Trái phiếu doanh nghiệp được xem là một trong ba nguồn vốn chiến lược.

Về tài khóa, nợ công của Việt Nam đến cuối năm 2025 ước khoảng 35–36% GDP; nợ Chính phủ 33–34% GDP; nợ nước ngoài quốc gia 31–32% GDP – đều thấp hơn nhiều nước và còn cách xa ngưỡng an toàn. Đây là dư địa để Chính phủ phát hành trái phiếu đầu tư hạ tầng, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

Trước lo ngại vay nợ gia tăng sẽ tạo áp lực trả nợ trong tương lai, ông Sang cho rằng điều này không đáng ngại nếu vốn vay được sử dụng hiệu quả. Lãi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam hiện thuộc nhóm thấp nhất thế giới, kể cả kỳ hạn 5–10 năm, tạo cơ hội huy động vốn chi phí thấp cho các dự án hạ tầng chiến lược. Chính phủ định hướng sử dụng dư địa nợ công và bội chi trong giới hạn an toàn để đầu tư các công trình trọng điểm, đồng thời điều hành linh hoạt kỳ hạn, khối lượng phát hành trái phiếu nhằm bảo đảm thanh khoản thị trường và an toàn nợ công.

Theo FiinGroup, để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, Việt Nam cần kích hoạt ba nguồn vốn chiến lược thay vì phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Thứ nhất là thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Năm 2025, tổng giá trị phát hành đạt khoảng 644 nghìn tỷ đồng, song khối phi ngân hàng chỉ chiếm 32%. Bước sang 2026, kênh này được kỳ vọng khởi sắc khi chính sách tiền tệ không còn nới lỏng buộc doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn vốn; ngân hàng siết cho vay dài hạn do áp lực an toàn vốn; khung pháp lý về phát hành riêng lẻ và tính pháp lý dự án dần hoàn thiện; đồng thời cơ sở nhà đầu tư mở rộng nhờ nới điều kiện cho các quỹ và hình thành các quỹ bảo lãnh, quỹ hạ tầng.

Thứ hai là vay quốc tế. Dư địa nợ công vẫn còn, trong bối cảnh lãi suất toàn cầu hạ nhiệt giúp Việt Nam có cơ hội tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý. Tuy nhiên, điều kiện then chốt là nâng hạng tín nhiệm quốc gia (hiện ở mức BB+) và cải thiện năng lực vay vốn của các dự án, đặc biệt là hạ tầng.

Thứ ba là huy động vốn cổ phần qua thị trường chứng khoán. Năm 2025 ghi nhận mức huy động kỷ lục 5,7 tỷ USD – cao nhất gần 30 năm. FiinGroup cho rằng giai đoạn từ 2026 trở đi sẽ là “thời điểm vàng” cho các thương vụ IPO, niêm yết của doanh nghiệp FDI, nhất là khi triển vọng nâng hạng thị trường có thể thu hút mạnh dòng vốn đầu tư gián tiếp.

TheoKỳ Thư (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global