VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Chủ nhật, 11/01/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpViệt Nam vào top 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới: Tăng trưởng nhanh nhưng không đánh đổi ổn định vĩ mô

Việt Nam vào top 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới: Tăng trưởng nhanh nhưng không đánh đổi ổn định vĩ mô

09:01:00 AM GMT+7Thứ 7, 10/01/2026

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, yêu cầu giữ vững ổn định vĩ mô được xác định là nguyên tắc xuyên suốt. Theo PGS.TS Bùi Quang Tuấn, tăng trưởng nhanh luôn đi kèm rủi ro, song không thể đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và các cân đối lớn để chạy theo con số tăng trưởng ngắn hạn; bài toán cốt lõi là tìm được điểm cân bằng nhằm bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn.

Trước mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng trên 10%/năm theo Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài toán đặt ra hiện nay sẽ không chỉ là “tăng nhanh” mà còn là “tăng bền vững”.

Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinace, PGS.TS Bùi Quang Tuấn – Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, để tạo bước đột phá thực chất, Việt Nam cần dựa vào bốn trụ cột tăng trưởng mới, trong đó khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò nền tảng và quyết định.

PGS-TS. Bùi Quang Tuấn, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam.

Mục tiêu cao là nền tảng vươn tới Top 30

- Tại Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đặt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 30 nền kinh tế hàng đầu thế giới, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, mục tiêu này có khả thi hay không?

PGS.TS Bùi Quang Tuấn: Việc đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao là cần thiết và có ý nghĩa chiến lược, nhằm tạo nền tảng để Việt Nam vươn lên nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và tiến tới thu nhập cao vào năm 2045. Có thể nói, giai đoạn 2026–2030 sẽ là chặng đường tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế kể từ sau công cuộc Đổi mới.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng cũ, vốn chủ yếu dựa trên khai thác tài nguyên, thâm dụng vốn và lao động giá rẻ. Những động lực này đang dần suy giảm, không còn đủ sức tạo ra tăng trưởng bền vững cũng như nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Muốn tạo bước đột phá, Việt Nam cần hình thành và phát huy bốn trụ cột tăng trưởng mới. Thứ nhất là khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, đóng vai trò nền tảng trong nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh. Thứ hai, thể chế và chính sách phải trở thành lợi thế cạnh tranh, bảo đảm môi trường đầu tư – kinh doanh minh bạch, ổn định và dễ dự báo. Thứ ba là phát triển nguồn nhân lực tinh hoa, thông qua chiến lược đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài trong nước và quốc tế. Cuối cùng là đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.

- Theo ông, các trụ cột tăng trưởng mới sẽ tạo ra “sức bật” cho nền kinh tế như thế nào?

PGS.TS Bùi Quang Tuấn: Cả bốn trụ cột đều có tác động lan tỏa mạnh tới nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu phải lựa chọn một động lực mang tính nền tảng và quyết định nhất, tôi cho rằng đó là khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Khoa học – công nghệ cho phép tự động hóa, tối ưu hóa các quy trình sản xuất và quản trị, qua đó nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Trong khi đó, chuyển đổi số giúp doanh nghiệp và cơ quan quản lý vận hành minh bạch hơn, nhanh hơn, giảm chi phí trung gian và hạn chế lãng phí.

Thực tế cho thấy, nhờ chuyển đổi số, nhiều thủ tục hành chính đã được đơn giản hóa. Chẳng hạn, thay vì tồn tại song song mã số thuế và mã số căn cước, hiện nay chỉ cần sử dụng mã định danh cá nhân để quản lý thống nhất. Cách làm này không chỉ tăng tính liên thông, minh bạch của dữ liệu mà còn giúp người dân và doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể thời gian, chi phí trong các giao dịch về thuế, bảo hiểm hay hành chính công.

Đáng chú ý, kinh tế số của Việt Nam đang tăng trưởng khoảng 19–20% mỗi năm và đóng góp xấp xỉ 14% GDP. Nếu tỷ trọng này tiếp tục được nâng lên, đây sẽ là động lực quan trọng kéo theo tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế.

Dĩ nhiên, quá trình số hóa vẫn đối mặt với không ít thách thức, từ nhận thức chưa đồng đều, hạn chế về hạ tầng dữ liệu, cơ chế chia sẻ thông tin, nguồn lực tài chính cho đến yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Tuy vậy, đây là những khó khăn mang tính phổ quát, ngay cả với các nền kinh tế phát triển. Với định hướng và quyết tâm hiện nay, Việt Nam đang đi đúng hướng để từng bước tháo gỡ các rào cản này.

- Trên thế giới, hiện nay, nhiều quốc gia đã vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” . Việt Nam có thể rút ra bài học gì, thưa ông?

PGS.TS Bùi Quang Tuấn: Theo số liệu của Cục Thống kê, năm nay thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GNI) của Việt Nam dự kiến đạt khoảng 5.000 USD, qua đó chính thức bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Cần phân biệt rõ, GNI khác với GDP bình quân đầu người. Nếu GDP phản ánh quy mô sản xuất bình quân, thì GNI đo lường thu nhập thực tế của người dân và thường thấp hơn, do đó phản ánh sát hơn mức sống và được sử dụng để phân loại nhóm thu nhập.

Ở thời điểm hiện nay, Việt Nam mới chỉ bắt đầu đi vào giai đoạn “bẫy thu nhập trung bình”. Thách thức lớn nhất không phải là đạt được mốc thu nhập trung bình cao, mà là làm thế nào để vượt qua giai đoạn này và tiến lên nhóm nước thu nhập cao, với mục tiêu GNI khoảng 14.000 USD trong tương lai.

Trên thế giới, chỉ có khoảng 34 quốc gia từng thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”, tiêu biểu như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) hay Malaysia. Điểm chung của các quốc gia này là không tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng truyền thống. Việt Nam nếu muốn tránh lặp lại “vết xe đổ” của một số nước đi trước, không thể đi theo con đường tăng trưởng dựa nhiều vào tài nguyên, lao động giá rẻ hay mở rộng đầu tư theo chiều rộng như Thái Lan từng làm.

Thay vào đó, Việt Nam buộc phải đổi mới mô hình tăng trưởng, trong đó khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh phải trở thành những động lực then chốt. Đặc biệt, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) cần được nâng từ mức 0,5–0,6% GDP hiện nay lên khoảng 2% GDP hoặc cao hơn, tiệm cận mặt bằng chung của thế giới.

Cùng với đầu tư cho công nghệ, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện hạ tầng và thể chế, cũng như đẩy mạnh hợp tác quốc tế là những yếu tố không thể thiếu để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Trong đó, tư duy đổi mới giữ vai trò quyết định. Nếu vẫn duy trì tư duy tăng trưởng cũ, Việt Nam rất khó vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình.

Một trụ cột quan trọng khác là quản trị hiện đại, bao gồm quản trị quốc gia, quản trị địa phương và quản trị doanh nghiệp. Quản trị tốt sẽ giúp các trụ cột tăng trưởng vận hành hiệu quả, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch và bền vững của toàn bộ hệ thống kinh tế.

Nhà nước cần đóng vai trò là Nhà nước kiến tạo, không chỉ ban hành chính sách mà còn tạo lập môi trường thuận lợi, đồng hành cùng doanh nghiệp trong và ngoài nước, thúc đẩy đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Về dài hạn, Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Xung quanh đó là Nhà nước, các cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức chuyển giao công nghệ, ngân hàng, quỹ đầu tư mạo hiểm và các dịch vụ hỗ trợ. Khi được vận hành trong một hệ sinh thái đồng bộ như vậy, doanh nghiệp sẽ có nền tảng vững chắc để mở rộng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Tăng trưởng trên 10% là mục tiêu rất cao

- Tăng trưởng sẽ luôn đi kèm lạm phát, liệu chúng ta có nên đánh đổi lạm phát lấy tăng trưởng không, thưa ông?

PGS.TS Bùi Quang Tuấn: Phải thẳng thắn khẳng định rằng mức tăng trưởng trên 10%/năm là rất cao và khi cao như vậy thì luôn đi kèm rủi ro. Nếu nhìn vào lịch sử của nền kinh tế Việt Nam kể từ giai đoạn Đổi mới (năm 1986) tới nay, tăng trưởng GDP chưa bao giờ vượt mốc 2 con số, cao nhất cũng chỉ đạt mốc 9,5% vào năm 1995.

Tuy nhiên, nguyên tắc tiên quyết là không đánh đổi ổn định vĩ mô lấy tăng trưởng. Ổn định vĩ mô là nền tảng, nếu vĩ mô bất ổn, môi trường kinh doanh sẽ không thuận lợi cho nhà đầu tư. Do đó, Việt Nam cần kiểm soát lạm phát và duy trì các cân đối vĩ mô, bao gồm trần nợ công, nợ nước ngoài và nợ Chính phủ.

Các thành tựu trong thu hút FDI và xuất nhập khẩu đều nhờ vào việc giữ ổn định chính trị và ổn định vĩ mô, minh bạch và kiểm soát lạm phát. Quốc hội đã nới lỏng mục tiêu lạm phát năm 2025 lên 4–4,5%, và có thể chấp nhận mức tối đa 5% để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, 5% vẫn là mức cao so với mặt bằng quốc tế.

Bài toán then chốt là tìm điểm cân bằng giữa tăng trưởng và lạm phát. Nếu tăng trưởng 10% nhưng lạm phát lên 5–6%, cần xem xét điều chỉnh, chấp nhận tăng trưởng thấp hơn nhưng duy trì lạm phát trong ngưỡng chịu đựng được. Mục tiêu cuối cùng là phát triển bền vững và lâu dài, thay vì chỉ chạy nhanh trong thời gian ngắn.

- Vậy giải pháp nào để hài hoà vấn đề trên, thưa ông?

PGS.TS Bùi Quang Tuấn: Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, hoàn thiện thể chế được xác định là khâu then chốt. Thể chế không chỉ là “khung khổ” quản lý, mà cần trở thành lợi thế so sánh của quốc gia, bảo đảm tính ổn định, minh bạch, hấp dẫn và có khả năng dự báo cao, qua đó củng cố niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Trọng tâm cải cách là tháo gỡ các điểm nghẽn về chính sách và thể chế. Hệ thống quy định cần được rà soát, hoàn thiện theo hướng đồng bộ, nhất quán, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn hoặc lạc hậu so với thực tiễn phát triển. Cùng với đó, việc triển khai các cơ chế thí điểm có kiểm soát (sandbox) được kỳ vọng tạo không gian thử nghiệm an toàn cho các mô hình, sáng kiến mới, qua đó khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Song song với hoàn thiện chính sách, năng lực thực thi cần được nâng cao, đặc biệt là sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ, ngành và địa phương. Công tác giám sát, đánh giá và kịp thời điều chỉnh chính sách cũng phải được chú trọng, nhằm bảo đảm các giải pháp đi vào thực chất và phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

Trân trọng cảm ơn ông!

TheoKỳ Thư (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global