VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 4, 11/02/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpMục tiêu GDP 10% từ 2026: Việt Nam có gì để tăng tốc?

Mục tiêu GDP 10% từ 2026: Việt Nam có gì để tăng tốc?

09:53:00 AM GMT+7Thứ 4, 11/02/2026

TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.

Khát vọng tăng trưởng hai con số từ năm 2026 đang được đặt trong một bối cảnh đặc biệt: nền kinh tế đã phục hồi mạnh sau đại dịch, hội nhập sâu rộng và nội lực khu vực tư nhân ngày càng rõ nét. Nhưng để chạm mốc 10% không chỉ cần động lực mới mà còn đòi hỏi nâng cấp chất lượng tăng trưởng, kiểm soát rủi ro tài chính và cải cách thể chế đủ sâu.

Việt Nam có gì trong tay để bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, và đâu là những điều kiện phải hội đủ để mục tiêu tham vọng này trở thành hiện thực?

Vế vấn đề này, Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnanFinance có cuộc trò chuyện với Chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Quốc Việt.

Tăng trưởng trên cơ sở thực tiễn

TS. Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia kinh tế.

- Mục tiêu tăng trưởng hai con số được xem là rất tham vọng. Vậy theo ông, nền tảng nào để chúng ta thực hiện mục tiêu này?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Văn kiện Đại hội XIV đặt mục tiêu phát triển đất nước gắn với hai dấu mốc 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước, hướng tới Việt Nam dân giàu, nước mạnh, thịnh vượng, công bằng, văn minh. Trên cơ sở đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 được xác định là bước đi cụ thể để hiện thực hóa “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc.

Đây là quyết tâm chính trị lớn, nhưng cũng dựa trên nền tảng thực tiễn. Sau Covid-19, kinh tế Việt Nam phục hồi tích cực, nằm trong nhóm 33 nền kinh tế lớn nhất thế giới và top 15 quốc gia có độ mở thương mại cao. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 920 tỷ USD, khẳng định vị thế ngày càng sâu trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Việt Nam tiếp tục thu hút mạnh dòng vốn FDI, không chỉ ở vốn đăng ký mà cả vốn thực hiện và vốn bổ sung. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh M&A để tham gia sâu hơn vào thị trường nội địa. Nền tảng hội nhập với 17 FTA, trong đó có nhiều FTA thế hệ mới, củng cố thêm nội lực kinh tế.

Khu vực tư nhân cũng nổi lên là động lực quan trọng khi nhiều tập đoàn đầu tư lớn vào công nghệ và hạ tầng chiến lược. Tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp từ khu vực này tăng đáng kể trong 5 năm qua, cho thấy sức phục hồi và đóng góp ngày càng rõ nét.

Cùng với hạ tầng được cải thiện, tiêu dùng nội địa và du lịch phục hồi, phân khúc chi tiêu cao cấp tăng lên, tạo thêm động lực cho tổng cầu. Tổng hòa các yếu tố này cho thấy mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 có cơ sở thực tiễn, không chỉ là tuyên bố quyết tâm.

- Vậy, chúng ta cần làm gì để hiện thực mục tiêu này?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Điều kiện tiên quyết để đạt tăng trưởng thực chất là nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, đặc biệt là hiệu quả các dòng vốn đầu tư. Chỉ khi vốn được sử dụng hiệu quả, tạo giá trị gia tăng rõ rệt và thúc đẩy đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, nền kinh tế mới có thể tăng trưởng về chất, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh.

Trong đó, đầu tư công giữ vai trò quan trọng, nhất là giai đoạn 2024–2025 khi trở thành “bệ đỡ” và động lực tăng trưởng hậu Covid-19. Tuy nhiên, hiệu quả chỉ bền vững nếu các dự án trọng điểm tạo được hiệu ứng lan tỏa, mở ra không gian phát triển mới, thu hút khu vực tư nhân, FDI và tạo sinh kế cho người dân, kể cả ở vùng khó khăn. Vì vậy, vốn đầu tư công cần tập trung vào các công trình chiến lược, có khả năng kích hoạt nguồn lực xã hội.

Song song với đó, hiệu quả chính sách phải được nâng lên theo hướng thực chất. Bên cạnh mở rộng tài khóa, cần phát huy vai trò khu vực tư nhân thông qua PPP, cơ chế đặt hàng và chia sẻ rủi ro hợp lý để mỗi đồng vốn nhà nước tạo sức lan tỏa lớn hơn.

Một yêu cầu quan trọng khác là phát triển thị trường vốn nhằm giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng – hiện ở mức trên 130% GDP, tiềm ẩn rủi ro. Cần thúc đẩy chứng khoán, trái phiếu và các quỹ đầu tư cho các lĩnh vực ưu tiên như kinh tế số, công nghệ cao, công nghiệp trọng điểm và chuyển dịch năng lượng.

Cuối cùng là nâng cấp quản trị quốc gia và doanh nghiệp. Chính phủ phải kiến tạo, minh bạch, ổn định chính sách; doanh nghiệp cần nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế, đáp ứng tiêu chuẩn ESG, sản xuất xanh, sạch để bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững.

- Nhưng tăng trưởng nhanh bao giờ cũng đi kèm các rủi ro. Vậy theo đánh giá của ông, rủi ro lớn trong giai đoạn hiện nay là gì?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Để thúc đẩy tăng trưởng, có thể tiếp cận theo hai hướng, trong đó cách truyền thống là huy động nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, khi thị trường vốn quốc tế còn nhiều rủi ro và khu vực tư nhân chưa huy động được như kỳ vọng, nền kinh tế đang phụ thuộc đáng kể vào đầu tư công và tín dụng ngân hàng. Thực trạng này bộc lộ rõ sau Covid-19 và tiếp tục tạo áp lực lên các cân đối vĩ mô giai đoạn 2024–2025.

Khi vốn đầu tư công giải ngân nhưng hiệu quả chưa tương xứng, không chỉ gây sức ép lên ngân sách và cơ quan quản lý mà còn tác động đến hệ thống tài chính – ngân hàng. Hiệu ứng “chen lấn” có thể khiến khu vực tư nhân càng khó tiếp cận vốn, gia tăng rủi ro thanh khoản và áp lực lãi suất, đồng thời đẩy giá tài sản lên cao.

Nếu dòng tiền tăng nhanh nhưng không được hấp thụ vào sản xuất, kinh doanh thực chất, nguy cơ chảy vào các kênh đầu cơ như vàng, ngoại tệ, bất động sản là rất lớn. Khi hình thành “bong bóng” tài sản, dư địa điều hành tài khóa, tiền tệ sẽ bị thu hẹp; trong trường hợp có cú sốc bên ngoài, rủi ro tích tụ có thể khiến xử lý nợ xấu thêm khó khăn. Thực tế từ các vấn đề trên thị trường trái phiếu hay vụ SCB năm 2023 cho thấy xử lý rủi ro ngân hàng không hề đơn giản. Vì vậy, rủi ro từ thị trường vốn và hệ thống tài chính – ngân hàng cần được đặc biệt lưu ý để bảo đảm tăng trưởng gắn với ổn định và bền vững.

Mục tiêu GDP 10% từ 2026: Việt Nam có gì trong tay?

Kiểm soát lạm phát ở mức 4,5% được xem là ngưỡng cần thiết

- Có ý kiến lo ngại chạy theo tăng trưởng cao có thể đánh đổi ổn định vĩ mô. Theo ông, đâu là ranh giới cần kiểm soát khi theo đuổi mục tiêu hai con số, nhất là trong điều hành tài khóa và tiền tệ?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Chính phủ nhiều lần khẳng định tăng trưởng nhanh phải đi đôi với bền vững, trong đó ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết. Theo các nhà hoạch định chính sách, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý chính là “lằn ranh” để cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và rủi ro tiềm ẩn.

Mục tiêu lạm phát bình quân không vượt 4,5% hiện được xem là ngưỡng kiểm soát cần thiết. Thực tế giai đoạn hậu Covid-19 cho thấy Việt Nam đã duy trì khá tốt ổn định giá cả và tăng trưởng, qua đó củng cố niềm tin của nhà đầu tư và người dân.

Song song với đó, chính sách tài khóa mở rộng theo hướng “khoan thư sức dân” như giãn, hoãn, miễn, giảm thuế; điều hành linh hoạt giá các dịch vụ thiết yếu đã góp phần giảm áp lực chi phí, hỗ trợ kiểm soát lạm phát và phục hồi tăng trưởng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đẩy mạnh đầu tư công để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, vấn đề an toàn nợ công cần được đặc biệt lưu ý. Dù các chỉ tiêu nợ công vẫn trong ngưỡng an toàn, việc cân đối thu – chi phải bảo đảm khả năng trả nợ trong ngắn, trung và dài hạn.

Thực tế cho thấy, giảm thuế thời gian qua không làm hụt thu ngân sách như lo ngại, mà nguồn thu vẫn tăng và cơ cấu thu ngày càng bền vững hơn, tạo dư địa cho điều hành vĩ mô. Dẫu vậy, quá trình cải cách và triển khai chính sách cần tránh nóng vội, phải dựa trên tín hiệu thị trường, đánh giá đầy đủ tác động và kiểm soát rủi ro, nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích và giữ vững mục tiêu phát triển bền vững.

- Từ góc độ chuyên gia, ông có khuyến nghị gì để vừa đạt tăng trưởng cao, vừa bảo đảm chất lượng và bền vững trong năm 2026 và các năm tới?

TS. Nguyễn Quốc Việt: Với sự điều hành của Chính phủ cùng các bộ, ngành và địa phương, tôi tin rằng quyết tâm và sự quyết liệt trong triển khai các chiến lược, chủ trương đúng đắn sẽ tiếp tục được phát huy.

Tuy nhiên, quá trình thực thi cần hài hòa hơn, tăng cường tương tác và lắng nghe ý kiến từ doanh nghiệp, người dân và giới nghiên cứu để chính sách có chiều sâu, nâng cao chất lượng, hạn chế rủi ro và tránh những điều chỉnh đột ngột, qua đó bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng vẫn bền vững, theo lộ trình an toàn.

Khi hành lang pháp lý và nền tảng chính sách đã được thiết lập, khâu triển khai cần thuận lợi, minh bạch và tinh gọn hơn. Cơ quan quản lý phải có cơ chế giải trình rõ ràng để cả người thực thi lẫn đối tượng chịu sự quản lý đều yên tâm, chủ động và sáng tạo trong thực hiện.

Chỉ khi xây dựng được tư duy quản trị hướng tới hiệu quả thực chất, mục tiêu tăng trưởng hai con số, gắn với chất lượng và tính bền vững trong năm 2026 và các năm tiếp theo, mới có cơ sở để đạt được một cách đồng bộ và nhất quán.

- Xin cảm ơn ông!

TheoKỳ Thư (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global