Trong giai đoạn phát triển mới, khu vực kinh tế tư nhân đang đứng trước những cơ hội lớn từ các định hướng chính sách mới, đồng thời phải đáp ứng những yêu cầu cao hơn về năng lực cạnh tranh, công nghệ, quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Để có thêm góc nhìn về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong giai đoạn hiện nay, những yêu cầu đặt ra cho đội ngũ doanh nhân trong bối cảnh mới, Tạp chí Nhà đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Thưa ông, Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, cùng với Nghị quyết 10-NQ/ TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đang tạo ra những định hướng mới đối với cộng đồng doanh nghiệp. Từ góc độ VCCI và thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, ông đánh giá những định hướng này đang mở ra cơ hội như thế nào để doanh nghiệp tư nhân phát huy vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế?
Ông Hoàng Quang Phòng: Điều tôi thấy rõ nhất sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 68 là sự thay đổi về vị thế của kinh tế tư nhân. Khu vực này được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế, cùng những cam kết về bảo vệ quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh và không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự. Với doanh nghiệp, đây là nền tảng quan trọng để yên tâm đầu tư dài hạn.
Năm 2025, cả nước có gần 297,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4%; số doanh nghiệp đang hoạt động đã vượt một triệu. Trong 8 tháng đầu năm 2026, gần 138,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 7,7%, với khoảng 1,7 triệu tỷ đồng vốn đăng ký, tăng 36,2%. Khu vực tư nhân hiện tạo việc làm cho khoảng 26 triệu lao động.
Những con số này cho thấy khu vực tư nhân đang tích lũy nội lực và có dư địa phát triển mạnh hơn nếu các điểm nghẽn về thị trường, vốn và minh bạch chính sách được tháo gỡ.
Nghị quyết 10-NQ/TW bổ sung một yêu cầu quan trọng: tăng kết nối giữa doanh nghiệp Việt Nam và khu vực FDI. Đến năm 2030, phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45–50%, khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I.
Nghị quyết cũng đặt yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính và truy xuất nguồn gốc. Đặt hai nghị quyết cạnh nhau, có thể thấy doanh nghiệp tư nhân trong nước và FDI cần trở thành hai vế của cùng một chuỗi giá trị.
Khoảng cách lớn giữa hai khu vực nhiều năm qua nằm ở các tiêu chuẩn về chất lượng, quản trị, môi trường và lao động. Nếu Nghị quyết 10 được triển khai bằng các chương trình cụ thể, doanh nghiệp Việt sẽ có cơ hội tiến lên những vị trí có giá trị gia tăng cao hơn.
Tuy nhiên, cơ hội mới chỉ thực sự trở thành kết quả khi được thể chế hóa và triển khai hiệu quả. Điều này phụ thuộc vào tốc độ thực hiện của các bộ, ngành, địa phương và năng lực của chính doanh nghiệp.
Một trong những vấn đề doanh nghiệp quan tâm nhất hiện nay là khả năng tiếp cận các nguồn lực cho phát triển, từ vốn, đất đai, mặt bằng sản xuất đến các dự án đầu tư và thị trường. Theo ông, rào cản lớn nhất đang nằm ở đâu? Cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn nào để khu vực tư nhân thực sự có thể mở rộng quy mô và đầu tư dài hạn?
Ông Hoàng Quang Phòng: Thách thức lớn nhất hiện nay vẫn là bài toán vốn. Nhu cầu vốn trung và dài hạn để đầu tư công nghệ lõi, chuyển đổi xanh và đạt chuẩn ESG rất lớn, nhưng doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng với điều kiện tài sản bảo đảm khắt khe.
Báo cáo PCI 2025 và Kinh tế tư nhân 2025 của VCCI cho thấy: 75,5% doanh nghiệp không thể vay nếu thiếu tài sản thế chấp; tỷ lệ khoản vay yêu cầu thế chấp tại Việt Nam lên tới 93,5% (cao vượt trội so với Malaysia 33,4%, Thái Lan 55,8% và trung bình thế giới 68,3%).
Rào cản ở đây là cơ chế phân bổ nguồn lực vẫn dựa vào tài sản hữu hình, trong khi rào cản kỹ thuật tiếp cận các nguồn tài chính xanh quốc tế còn quá cao đối với SME. Mặt bằng sản xuất và thị trường là hai điểm nghẽn tiếp theo. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khó cạnh tranh đất đai với các tập đoàn lớn, thủ tục giao/thuê và định giá đất kéo dài làm tăng chi phí cơ hội.
Dù Nghị quyết 68 đã mở đường, doanh nghiệp vẫn chờ đợi các địa phương sớm công khai quỹ đất sạch và giá thuê minh bạch. Cùng với đó, 60,2% doanh nghiệp đang gặp khó khăn tìm kiếm khách hàng (tăng từ 45,3% năm 2024). Khi đầu ra chưa chắc chắn, doanh nghiệp khó có động lực vay vốn dài hạn để mở rộng.
Để tháo gỡ, tôi cho rằng cần đi đồng thời theo ba hướng: Thứ nhất, chuyển dần sang cho vay dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh và dữ liệu tín dụng; mở rộng bảo lãnh tín dụng cho SME và phát triển thị trường vốn minh bạch; Thứ hai, đẩy nhanh thủ tục đất đai, công khai quỹ đất sạch cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; Thứ ba, bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng cho khu vực tư nhân vào các dự án đầu tư công, PPP, mua sắm công và thị trường tiêu thụ.
Giải quyết được những bài toán này chính là tạo đòn bẩy bứt phá cho toàn bộ nền kinh tế.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng “hai con số”, đồng thời hội nhập ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sẽ là yếu tố quyết định khả năng biến cơ hội thành kết quả thực chất. Ông nhìn nhận thế nào về năng lực cạnh tranh hiện nay của doanh nghiệp Việt, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân? Đâu là những hạn chế và giải pháp để giải quyết các hạn chế này?
Ông Hoàng Quang Phòng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt đã cải thiện rõ trong mười năm qua. Chúng ta đã có những tập đoàn tư nhân đủ tầm đầu tư vào hạ tầng, công nghiệp, công nghệ và vươn ra thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào số đông, bức tranh vẫn chưa đồng đều. Phần lớn doanh nghiệp Việt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, thiếu nguồn lực đầu tư công nghệ; không có công nghệ thì khó đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp FDI và nhà nhập khẩu, khó tham gia chuỗi cung ứng và có đơn hàng ổn định để phát triển.
Khảo sát năm nay của VCCI cho thấy chỉ 8,8% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sản phẩm, dịch vụ. Nghị quyết 10 đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của khu vực FDI, cho thấy dư địa tăng cường liên kết vẫn còn rất lớn.
Nếu chọn một khâu yếu nhất để bắt đầu tháo gỡ, tôi cho rằng đó là quản trị - điểm tựa cho những yếu tố còn lại. Doanh nghiệp có báo cáo tài chính minh bạch sẽ dễ vay vốn, gọi vốn hơn; có hệ thống quản lý chất lượng, lao động và môi trường bài bản sẽ dễ được đối tác nước ngoài lựa chọn. Lãnh đạo có tư duy quản trị hiện đại cũng sẽ biết đầu tư vào con người, thay vì chỉ cạnh tranh bằng chi phí nhân công thấp, một lợi thế đang thu hẹp.
Về giải pháp, doanh nghiệp cần chủ động minh bạch hóa hoạt động, đầu tư có trọng tâm vào công nghệ, chuyển đổi số và tăng cường liên kết để đủ quy mô nhận đơn hàng lớn. Nhà nước cần chuyển hỗ trợ từ dàn trải sang gắn với kết quả, như hỗ trợ doanh nghiệp đạt chứng nhận tiêu chuẩn, trở thành nhà cung ứng cho doanh nghiệp FDI hoặc đầu tư đổi mới công nghệ.
Chính sách phát triển nhà cung ứng trong nước theo tinh thần Nghị quyết 10 cũng cần theo hướng này. Về phía VCCI, chúng tôi tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên nhiều phương diện, từ quản trị, đào tạo và phát triển lãnh đạo, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đến xúc tiến thương mại, kết nối thị trường và kết nối doanh nghiệp Việt với khu vực FDI.
Chương trình "CEO Việt Nam Kỷ nguyên mới" giai đoạn 2026–2030 là một trong những sáng kiến nhằm phát triển đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp trong giai đoạn mới.
Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam, nhìn về giai đoạn phát triển mới, theo ông đội ngũ doanh nhân Việt Nam cần có những thay đổi nào để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới? Đồng thời, từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, những vấn đề thể chế nào cần tiếp tục được cải cách hoặc tháo gỡ để tạo một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và có khả năng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn?
Ông Hoàng Quang Phòng: Thế hệ doanh nhân trước đây lớn lên cùng những cơ hội lớn của giai đoạn mở cửa khi thị trường còn nhiều khoảng trống. Giai đoạn tới sẽ mở ra những cơ hội mới, nhưng đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực tốt hơn về công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn và uy tín.
Vì vậy, doanh nhân Việt Nam cần vừa chủ động nắm bắt cơ hội, vừa xây dựng năng lực để phát triển bền vững với tầm nhìn dài hạn hơn.
Tôi nghĩ có ba thay đổi rất cần thiết, gồm: Coi trọng tuân thủ, minh bạch là lợi thế cạnh tranh; chủ động thích ứng với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và các yêu cầu ngày càng cao về phát thải, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm chuỗi cung ứng; đồng thời tăng cường hợp tác, liên kết thay vì cạnh tranh về giá.
Ngoài ra, văn hóa kinh doanh, đạo đức doanh nhân và trách nhiệm xã hội cũng cần được coi trọng. Về thể chế, doanh nghiệp cần nhất là khả năng dự báo.
Khảo sát của VCCI cho thấy chỉ khoảng 6–8% doanh nghiệp thường xuyên dự đoán được thay đổi chính sách, trong khi 51,9% tiếp cận dự thảo văn bản qua mạng xã hội. Vì vậy, cần nâng chất lượng tham vấn, có lộ trình chuyển tiếp hợp lý, giảm chi phí tuân thủ và chi phí không chính thức.
Tỷ lệ doanh nghiệp phản ánh phát sinh chi phí không chính thức khi xin giấy phép kinh doanh là 26%, gần gấp ba mức trung bình khu vực 9,5%. Đồng thời, cần xử lý chồng chéo pháp luật và thực thi nhất quán nguyên tắc không hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự.
Cuối cùng, khâu quan trọng là tổ chức thực hiện. Các nghị quyết cần được cụ thể hóa thành quy trình, thời hạn và trách nhiệm rõ ràng. VCCI sẽ tiếp tục làm cầu nối, tổng hợp phản ánh của doanh nghiệp và theo dõi thực thi để chính sách được đo bằng trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp.
Xin cảm ơn ông!



