Thứ 5, 08/10/2026 | English | Vietnamese
04:14:00 PM GMT+7Thứ 4, 07/10/2026
Không thiếu phần mềm nhưng nhiều hợp tác xã vẫn chưa tạo lập được dữ liệu sản xuất đầy đủ, chính xác và liên thông. Khi dữ liệu chưa “sống”, chuyển đổi số khó đi xa.
Sáng 7/10, tại Hà Nội, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Tạp chí Kinh Doanh (VnBusiness) và Viện Khoa học Kinh tế hợp tác tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi số trong hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường”.
Dữ liệu chưa đủ, công nghệ khó tạo giá trị
Phát biểu khai mạc, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, cho rằng câu hỏi đặt ra hiện nay không còn là hợp tác xã (HTX) có cần chuyển đổi số hay không, mà là bắt đầu từ đâu, cần gì và chuyển đổi số tạo ra giá trị gì cho HTX và thành viên.
Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phát biểu tại Diễn đàn.
Khảo sát của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác cho thấy, chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể mới đạt khoảng 29,5%, đang ở giai đoạn bắt đầu. Thiết bị số ngày càng phổ biến nhưng ứng dụng công nghệ vào quản trị, sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường còn hạn chế. “Điểm nghẽn của chuyển đổi số trong HTX hiện nay không đơn thuần nằm ở thiết bị hay công nghệ. Điểm nghẽn còn nằm ở dữ liệu, kỹ năng và phương thức quản trị. Quan trọng hơn là khả năng biến công nghệ thành giá trị kinh tế”, bà Cao Xuân Thu Vân nói.
Theo bà Vân, chuyển đổi số không nên bắt đầu bằng câu hỏi “mua công nghệ gì”, mà phải bắt đầu bằng câu hỏi “công nghệ giải quyết được vấn đề gì”. Trong đó, dữ liệu về nguyên liệu, quy trình sản xuất, sản lượng, chất lượng, chi phí, khách hàng và thị trường là nền tảng để HTX quản trị sản xuất, truy xuất nguồn gốc, minh bạch sản phẩm và đáp ứng yêu cầu thị trường.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa việc có công cụ số và có dữ liệu thực chất vẫn rất lớn. Ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết đến hết năm 2025, cả nước có khoảng 36.270 HTX với gần 7,1 triệu thành viên, đóng góp khoảng 4,8% GDP. HTX nông nghiệp chiếm khoảng 66% tổng số.
Khoảng 35% HTX đã bắt đầu sử dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc. Song, số liệu trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính đến ngày 31/8/2026 cho thấy, trong 793.623 sản phẩm đăng ký, chỉ 158.451 sản phẩm có đầy đủ thông tin để truy xuất, tương đương khoảng 20%. Đáng chú ý, trong 3.013 nông hộ đăng ký, chỉ 36 hộ cung cấp đủ dữ liệu, tương ứng 1,2%. Riêng từ ngày 1/7 đến 31/8/2026, trong hơn 288.000 sản phẩm đăng ký mới, chỉ có 323 sản phẩm có thông tin hoàn chỉnh.
Theo ông Tuất, mã QR chỉ là “cửa sổ” để người tiêu dùng tra cứu; giá trị cốt lõi nằm ở dữ liệu phía sau, phải được ghi nhận đúng thời điểm sản xuất, có kiểm tra, xác nhận và xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến thị trường. Như vậy, bài toán chuyển đổi số của HTX không chỉ là có thêm một phần mềm mà trước hết là năng lực tạo lập, cập nhật và sử dụng dữ liệu.
Lấy thị trường làm thước đo chuyển đổi số
Yêu cầu về dữ liệu ngày càng rõ khi các thị trường chuyển từ kiểm tra sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát thông tin trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Với sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc, vùng trồng và cơ sở đóng gói phải được cấp mã số và quản lý chặt chẽ. Trong khi đó, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đặt ra yêu cầu về dữ liệu địa lý đối với các mặt hàng như cà phê, cao su và gỗ.
Toàn cảnh Diễn đàn.
Theo ông Đào Ngọc Tuất, kết quả thí điểm truy xuất nguồn gốc sầu riêng trong nửa đầu năm 2026 cho thấy, khi dữ liệu được quản lý đồng bộ tại 255 vùng trồng, 149 doanh nghiệp, 547 nông hộ với 919 lô hàng, thời gian từ thu hái đến thông quan đã rút ngắn từ 15-20 ngày xuống còn 6-11 ngày.
Ngược lại, thiếu kết nối dữ liệu giữa vùng trồng và cơ sở đóng gói có thể khiến hàng hóa ách tắc tại cửa khẩu, phát sinh chi phí kiểm nghiệm và rủi ro thương mại. Trong chuỗi này, HTX có vai trò tập hợp nông hộ, thống nhất quy trình ghi nhật ký sản xuất, quản lý nguồn nguyên liệu và kết nối với doanh nghiệp, cơ quan quản lý cũng như nhà cung cấp công nghệ.
Từ thực tế đó, đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến cáo HTX quy mô nhỏ không nên vội xây dựng phần mềm riêng lẻ, mà có thể sử dụng các giải pháp sẵn có đã kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ, theo hướng tạo lập dữ liệu một lần và sử dụng nhiều lần.
Ở góc độ chính sách chuyển đổi số, ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho rằng cần xác định đúng thứ tự ưu tiên. Hiện chỉ khoảng 15% HTX sử dụng phần mềm quản trị, trong khi khoảng 35% ứng dụng truy xuất nguồn gốc. “Mua công nghệ ở đầu ra khi chưa có dữ liệu ở đầu vào là đầu tư lệch thứ tự”, ông Hạnh nhận định.
Theo ông Hạnh, HTX nên kiểm tra điều kiện để tiếp cận chính sách hỗ trợ, tự đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số và lựa chọn giải pháp phù hợp, ưu tiên các nền tảng có thể thuê, xuất được dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin. Nguyên tắc nên là “dùng chung trước, đầu tư riêng sau”, tránh tình trạng dữ liệu bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp.
Trong khi đó, khảo sát của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác cho thấy năng lực nhân sự cũng là một điểm nghẽn. Chỉ khoảng 13% lãnh đạo HTX có trình độ từ đại học trở lên; 48% chưa qua các chương trình đào tạo phù hợp. Các kỹ năng về truyền thông, thương mại điện tử, công nghệ thông tin, máy móc công nghệ và khai thác thông tin chỉ đạt khoảng 2-2,5 điểm, dưới mức trung bình.
Trong khi đó, 94,6% thành viên HTX sử dụng điện thoại thông minh. Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng ứng dụng số, nhưng tần suất sử dụng các ứng dụng số, thương mại điện tử và hoạt động trực tuyến vẫn thấp.
Từ thực tế tại địa phương, ông Đỗ Xuân Trường, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình, cho rằng chuyển đổi số phải làm thay đổi phương thức quản trị, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu, kết nối chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường. Tỉnh đã hình thành 108 chuỗi liên kết giá trị. Theo ông Trường, con số chuỗi không phải mục tiêu cuối cùng. Điều quan trọng là các chuỗi phải hoạt động thực chất, có dữ liệu, tiêu chuẩn, thương hiệu và thị trường ổn định.
Bà Cao Xuân Thu Vân cho rằng thước đo chuyển đổi số không phải HTX có bao nhiêu phần mềm hay thiết bị, mà là quản trị tốt hơn bao nhiêu, chi phí giảm thế nào, năng suất và chất lượng tăng ra sao, thị trường mở rộng thế nào và cuối cùng thu nhập của thành viên có tăng hay không. Theo bà, chuyển đổi số là quá trình dài hạn, có thể cần 5-10 năm để tạo ra những thay đổi rõ nét về hiệu quả và thu nhập. Liên minh HTX Việt Nam định hướng xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số cho khu vực kinh tế tập thể, gắn với ba yêu cầu: nâng cao quản trị, phát triển chuỗi giá trị và mở rộng thị trường.
Từ góc độ chính sách, ông Hoàng Hữu Hạnh đề xuất hỗ trợ HTX theo từng bậc trưởng thành; xây dựng một đầu mối dữ liệu; chuẩn hóa danh mục nền tảng dùng chung và hình thành mạng lưới nhân lực tư vấn tại chỗ. Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình cũng đề xuất xây dựng nền tảng số dùng chung cho HTX; hỗ trợ “năng lực số” thay vì chỉ hỗ trợ thiết bị; hình thành cơ sở dữ liệu HTX theo hướng mở, liên thông và có cơ chế tài chính, tín dụng phù hợp cho đầu tư công nghệ.
Chuyển đổi số trong HTX đang chuyển từ câu hỏi “có hay không” sang “bắt đầu từ đâu và làm như thế nào”. Với khu vực HTX, điểm xuất phát có thể không phải một công nghệ mới mà là những việc căn bản hơn: chuẩn hóa sổ sách, danh sách thành viên, nhật ký sản xuất, dữ liệu vùng nguyên liệu và thông tin khách hàng. Khi dữ liệu trở thành công cụ quản trị, công nghệ mới có cơ sở để tạo hiệu quả. Và khi hiệu quả gắn với thị trường, chuyển đổi số mới thực sự tạo ra giá trị cho HTX và thành viên.

04:13:00 PM GMT+7Thứ 4, 07/10/2026

04:09:00 PM GMT+7Thứ 4, 07/10/2026

03:54:00 PM GMT+7Thứ 4, 07/10/2026
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global