VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 3, 21/07/2026 | English | Vietnamese

Trang chủDoanh nghiệpTín chỉ carbon: "Mỏ vàng" mới vẫn chờ khai mở

Tín chỉ carbon: "Mỏ vàng" mới vẫn chờ khai mở

10:33:00 AM GMT+7Thứ 3, 21/07/2026

Khi khung pháp lý dần hoàn thiện và thị trường carbon trong nước từng bước hình thành, tín chỉ carbon được kỳ vọng sẽ trở thành nguồn thu mới cho chủ rừng, bao gồm các cộng đồng sống dựa vào rừng, doanh nghiệp và địa phương, trực tiếp góp phần bảo vệ môi trường. Việc vận hành thị trường tín chỉ carbon đồng thời là công cụ quan trọng giúp Việt Nam thực hiện các cam kết giảm phát thải. Tuy nhiên, để biến tiềm năng của thị trường này thành giá trị kinh tế vẫn còn nhiều rào cản cần được tháo gỡ.

"Cuộc chơi" mới của nền kinh tế xanh

Biến đổi khí hậu, một trong những thách thức lớn của thế giới, có nguyên nhân từ lượng khí nhà kính phát sinh từ hoạt động sản xuất và tiêu dùng không ngừng gia tăng. Để giảm tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, nhiều quốc gia đã cam kết giảm phát thải thông qua việc thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" (Net Zero). Thị trường carbon được coi là một trong những công cụ quan trọng để thực hiện mục tiêu này. Thị trường chủ yếu vận hành thông qua các công cụ như thuế carbon, trao đổi hạn ngạch phát thải hoặc mua bán tín chỉ carbon - loại hàng hóa được tính theo đơn vị 1 tấn khí carbon (CO₂) hoặc lượng khí nhà kính quy đổi tương đương.

Trong khoảng 5 năm trở lại đây, tín chỉ carbon đã trở thành một loại hàng hóa, tài sản có thể giao dịch trên thị trường. Hiện thị trường carbon toàn cầu đang tăng trưởng nhanh, với hai loại hình chính gồm thị trường carbon bắt buộc (compliance market) và thị trường carbon tự nguyện (voluntary market). Trong khuôn khổ thị trường bắt buộc, Nhà nước quy định hạn ngạch phát thải đối với các doanh nghiệp có mức phát thải cao. Các doanh nghiệp phát thải vượt hạn ngạch cho phép phải mua thêm hạn ngạch phát thải hoặc tín chỉ carbon để bù đắp phần phát thải vượt mức. Nguồn cung hạn ngạch và tín chỉ carbon đến từ các doanh nghiệp có mức phát thải thấp hơn hạn ngạch được phân bổ và từ các dự án tạo ra kết quả giảm phát thải đã được xác nhận, lượng hóa thành tín chỉ carbon.

Thị trường carbon đang có sức hút lớn đối với các bên liên quan, bao gồm cơ quan quản lý, doanh nghiệp phát thải, nhà đầu tư và các đơn vị phát triển dự án tín chỉ carbon. Nhiều tổ chức tài chính đã xem tín chỉ carbon là một loại tài sản mới bên cạnh cổ phiếu, trái phiếu và các loại hàng hóa truyền thống.

Việt Nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" (Net Zero). Ảnh: THanh Thanh

Rừng có tiềm năng rất lớn trong việc tạo ra nguồn tín chỉ carbon phục vụ thị trường. Với hơn 14 triệu ha rừng, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nhiều tiềm năng huy động nguồn tài chính mới thông qua thị trường carbon, phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng trong tương lai. Từ góc độ này, sản phẩm từ rừng không chỉ là gỗ và lâm sản mà còn là giá trị hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

Phát triển thị trường carbon là bước đi quan trọng nhằm tạo ra công cụ kinh tế hỗ trợ giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời mở ra cơ hội huy động nguồn lực xã hội cho quá trình chuyển đổi xanh. Đây cũng là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với các tiêu chuẩn và yêu cầu mới của thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, thị trường carbon sẽ góp phần tạo tín hiệu cho các hoạt động đầu tư xanh, đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

Ông Lê Công Thành, Thứ trưởng Bộ NN&MT

Trao đổi với Nhadautu.vn, TS. Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Forest Trends, cho biết tín chỉ carbon có thể được tạo ra từ nhiều lĩnh vực như lâm nghiệp, điện gió, thủy điện, điện mặt trời, biogas, xử lý chất thải hay các dự án tiết kiệm năng lượng... Trong đó, lâm nghiệp được đánh giá là một trong những lĩnh vực có nhiều tiềm năng nhất.

Theo dự báo của Cục Biến đổi khí hậu (nay thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường - NN&MT) công bố năm 2023, trong giai đoạn đầu phát triển thị trường, Việt Nam có thể cung ứng khoảng 10,8 triệu tín chỉ carbon tự nguyện mỗi năm.

Tuy nhiên, theo TS. Tô Xuân Phúc, tiềm năng không đồng nghĩa với lượng tín chỉ carbon có thể đưa ra thị trường để giao dịch, đặc biệt là những giao dịch quốc tế, khi quyền sở hữu tín chỉ carbon được chuyển từ Việt Nam sang các quốc gia khác. Lý do là Việt Nam cần thực hiện trách nhiệm giảm phát thải quốc gia theo cam kết của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, trong khuôn khổ Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).

"Trước hết phải xác định trách nhiệm đóng góp của Việt Nam trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giảm phát thải theo cam kết quốc gia, phần giảm phát thải còn lại có thể được chuyển hóa thành tín chỉ carbon để giao dịch", ông Phúc nói.

Theo ông, Việt Nam hiện vẫn đang xây dựng NDC 3.0 nhằm xác định trách nhiệm giảm phát thải của từng ngành, trong đó có lâm nghiệp. Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ phân bổ chỉ tiêu cho từng ngành, từng địa phương. Các ngành, địa phương chỉ được phép "thị trường hóa" hạn ngạch giảm phát thải và tín chỉ carbon sau khi đã hoàn thành trách nhiệm của mình.

"Tại thời điểm này, các ngành, các địa phương chưa thể xác định chính xác tiềm năng tín chỉ carbon có thể được phép giao dịch là bao nhiêu bởi trách nhiệm giảm phát thải của từng địa phương, từng ngành vẫn đang được hoàn thiện. Vì vậy, mọi ước tính về quy mô thị trường ở thời điểm này đều chỉ mang tính tham khảo", TS. Tô Xuân Phúc phân tích.

Không phải cứ có rừng là có tín chỉ carbon

Một trong những câu hỏi được nhiều địa phương, doanh nghiệp và chủ rừng quan tâm là: Với diện tích rừng hiện có, mỗi năm có thể tạo ra bao nhiêu tín chỉ carbon để bán?

Theo các chuyên gia, đây là cách tiếp cận chưa chính xác.

TS. Tô Xuân Phúc cho biết, tín chỉ carbon không tự động hình thành chỉ vì có rừng. Tín chỉ carbon chỉ được hình thành thông qua việc thực hiện các hoạt động can thiệp, từ đó làm giảm mức độ phát thải hoặc tăng khả năng hấp thụ carbon. Ví dụ về các hoạt động can thiệp gồm trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng, tăng cường bảo vệ, chống mất rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, canh tác nông lâm kết hợp… Điều kiện tiên quyết là phải chứng minh được việc thực hiện các hoạt động này làm lượng hấp thụ carbon của rừng tăng thêm hoặc lượng phát thải của rừng giảm xuống so với trường hợp không thực hiện các hoạt động này (kịch bản thông thường - baseline).

"Nếu chỉ bảo vệ rừng theo các hoạt động quản lý thường xuyên như trách nhiệm hiện nay của các chủ rừng thì sẽ không thể hình thành nguồn tín chỉ carbon. Không thể dùng các diện tích rừng rồi quy đổi trực tiếp thành số lượng tín chỉ để bán", ông Phúc nói.

Tín chỉ carbon chỉ được hình thành thông qua việc thực hiện các hoạt động can thiệp từ đó làm giảm mức độ phát thải hoặc tăng mức độ hấp thụ carbon.Ảnh: TN&MT 

Theo chuyên gia, mọi dự án carbon với các hoạt động can thiệp đều phải xây dựng đường cơ sở (baseline) để xác định lượng hấp thụ hoặc giảm phát thải trong trường hợp không thực hiện các hoạt động. Chỉ phần chênh lệch về mức độ phát thải hoặc hấp thụ tạo ra từ các hoạt động can thiệp mới có tiềm năng hình thành nguồn tín chỉ carbon có thể được phép giao dịch.

Ví dụ, trước đây lực lượng quản lý rừng chỉ tuần tra một lần mỗi tuần, nhưng khi triển khai dự án, tần suất tuần tra tăng gấp đôi, qua đó trực tiếp góp phần giảm tỷ lệ mất rừng. Phần giảm phát thải nhờ ngăn chặn mất rừng, sau khi được đo đạc, thẩm định và xác minh, mới có thể được chuyển thành tín chỉ carbon và giao dịch trên thị trường.

Điều này cũng đồng nghĩa với việc không phải mọi diện tích rừng đều có thể tạo ra tín chỉ carbon. Giá trị của tín chỉ phụ thuộc vào hiệu quả thực tế của dự án và phải được chứng minh bằng số liệu khoa học.

Để một tín chỉ carbon được phát hành, chủ dự án phải trải qua nhiều bước, từ xây dựng phương pháp luận, đo đạc và kiểm kê carbon, lập hồ sơ dự án, thẩm định, xác minh đến đăng ký và phát hành theo các tiêu chuẩn quốc tế hoặc quy định của cơ chế áp dụng. Toàn bộ quy trình đòi hỏi chi phí lớn, năng lực kỹ thuật cao và hệ thống giám sát nghiêm ngặt.

Cơ chế, chính sách mới cũng đã và đang được triển khai nhằm giảm phát thải, tạo nền tảng cho việc hình thành thị trường trao đổi hạn ngạch phát thải và giao dịch tín chỉ carbon. Cụ thể, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ban hành năm 2022 và nay là Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ban hành năm 2025 quy định các doanh nghiệp có mức phát thải cao phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm giai đoạn 2025-2026, bao gồm hạn ngạch phân bổ cho 34 nhà máy điện, 25 cơ sở sản xuất thép và 51 cơ sở sản xuất xi măng.

Theo quy định hiện hành, các doanh nghiệp thuộc diện kiểm kê phát thải có thể lựa chọn đầu tư công nghệ để giảm phát thải, mua hạn ngạch phát thải hoặc sử dụng tín chỉ carbon đủ điều kiện để bù trừ một phần nghĩa vụ tuân thủ. Việc bù trừ bằng hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon tạo nền tảng cho sự hình thành thị trường. Việc vận hành thị trường được kỳ vọng sẽ tạo ra nguồn tài chính mới từ thị trường hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon trong nước.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, quyết định đầu tư vào thị trường trao đổi hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon của các nhà đầu tư sẽ phụ thuộc vào hiệu quả kinh tế. Doanh nghiệp sẽ cân nhắc giữa chi phí đầu tư công nghệ, chi phí mua hạn ngạch phát thải và chi phí mua tín chỉ carbon để lựa chọn phương án tối ưu. Vì vậy, nhu cầu đối với tín chỉ carbon sẽ được quyết định bởi quan hệ cung - cầu của thị trường, thay vì tăng lên một cách tự động.

Hạ tầng đã sẵn sàng, thị trường vẫn chờ thanh khoản

Năm 2023 đánh dấu cột mốc Việt Nam lần đầu tiên chuyển nhượng thành công 10,3 triệu tấn CO₂ giảm phát thải từ rừng của 6 tỉnh Bắc Trung Bộ cho Ngân hàng Thế giới (WB) theo Thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA), thu về 51,5 triệu USD.

Đây được xem là giao dịch giảm phát thải từ rừng đầu tiên của Việt Nam, mở ra cơ hội thương mại hóa giá trị hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, đồng thời tạo nguồn thu mới cho các địa phương tham gia bảo vệ, phát triển rừng.

Mới đây, tại Hội nghị phổ biến Nghị định 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết Việt Nam tiếp tục chuyển nhượng bổ sung 1 triệu tấn CO₂ giảm phát thải cho WB, thu về 5 triệu USD.

Như vậy, tổng lượng giảm phát thải đã được chuyển nhượng đạt 11,3 triệu tấn CO₂, với tổng giá trị 56,5 triệu USD, tương ứng đơn giá 5 USD/tấn CO₂.

Mặc dù quy mô còn khiêm tốn, những giao dịch đầu tiên này cho thấy giá trị giảm phát thải từ rừng của Việt Nam đã bước đầu được thương mại hóa, mở ra dư địa phát triển cho thị trường carbon trong nước và tăng khả năng tham gia thị trường carbon quốc tế.

Sàn Giao dịch carbon trong nước mới có  một sản phẩm duy nhất được niêm yết là VN2025, Ảnh: Than Thanhh

Một câu hỏi đang được nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư quan tâm. là Việt Nam đã có bao nhiêu tín chỉ carbon?

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có số liệu tổng hợp chính thức về tổng lượng tín chỉ carbon mà Việt Nam đã được cấp. Các số liệu hiện được công bố chủ yếu phản ánh lượng tín chỉ được phát hành theo các cơ chế carbon quốc tế hoặc các chương trình giảm phát thải, chưa đồng nghĩa với lượng tín chỉ đang được giao dịch trên thị trường carbon trong nước.

Theo thông tin Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) công bố khi xây dựng Đề án phát triển thị trường carbon, đến năm 2023, Việt Nam có khoảng 150 chương trình, dự án được đăng ký theo các cơ chế quốc tế và đã được cấp khoảng 40,2 triệu tín chỉ carbon.

Trong khi đó, theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) được VnExpress dẫn lại, đến hết năm 2023, Việt Nam đã có hơn 42 triệu tín chỉ carbon được cấp theo các cơ chế quốc tế.

Sự chênh lệch giữa hai con số chủ yếu do khác biệt về thời điểm thống kê và phạm vi dữ liệu, song đều cho thấy Việt Nam đã hình thành nguồn cung tín chỉ carbon đáng kể theo các cơ chế quốc tế.

Thông tin tại Diễn đàn "Năng lượng và Môi trường Thế giới - Việt Nam 2026" mới đây, Thứ trưởng Bộ NN&MT Lê Công Thành cho biết Bộ đã hoàn thành việc phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho 110 cơ sở thuộc các lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất thép và sản xuất xi măng trong giai đoạn 2025-2026, tạo nền tảng cho việc vận hành thị trường carbon trong nước.

Ngày 29/6/2026, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) chính thức đưa Sàn giao dịch carbon vào vận hành.

HNX đã xây dựng đầy đủ hạ tầng phục vụ giao dịch, bao gồm các phân hệ về hạn ngạch phát thải, tín chỉ carbon, danh mục dự án carbon, kết quả giao dịch, thống kê giao dịch và công bố thông tin.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, thị trường mới có một sản phẩm duy nhất được niêm yết là VN2025, thuộc nhóm hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Chưa có tín chỉ carbon nào được đưa lên sàn và cũng chưa phát sinh giao dịch thực tế.

Theo TS. Tô Xuân Phúc, việc đưa sàn giao dịch carbon vào vận hành là bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu.

"Hàng hóa giao dịch hiện vẫn chủ yếu là hạn ngạch phát thải, trong khi tín chỉ carbon từ các dự án giảm phát thải chưa được đưa lên sàn. Bên cạnh hạ tầng giao dịch như sàn hiện nay, điều quan trọng là việc tạo ra hàng hóa giao dịch trên sàn – là việc tạo nguồn cung tín chỉ chất lượng, mở rộng đối tượng tham gia vào thị trường", chuyên gia của Forest Trends nhận định.

TheoThanh Thanh (Tạp chí điện tử Nhà đầu tư)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global