VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 6, 07/08/2026 | English | Vietnamese

Trang chủDoanh nghiệp'Trả lại không gian điều hành thực chất cho các doanh nghiệp nhà nước'

'Trả lại không gian điều hành thực chất cho các doanh nghiệp nhà nước'

09:29:00 AM GMT+7Thứ 6, 07/08/2026

Nghị quyết 79 đã trao cho doanh nghiệp Nhà nước một sứ mệnh mới: không chỉ giữ vai trò ổn định kinh tế vĩ mô mà còn phải trở thành lực lượng dẫn dắt tăng trưởng. Tuy nhiên, theo TS. Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam, để hoàn thành vai trò đó, điều quan trọng nhất là phải thay đổi mô hình quản trị, trao quyền tự chủ thực chất cho doanh nghiệp và giảm sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính.

Nghị quyết 79 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với khu vực doanh nghiệp Nhà nước khi không chỉ xác định đây là lực lượng giữ vai trò ổn định kinh tế vĩ mô mà còn kỳ vọng trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng, tiên phong trong đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Để hiện thực hóa sứ mệnh đó, cùng với việc hoàn thiện thể chế, điều quan trọng là phải đổi mới mô hình quản trị, trao quyền tự chủ nhiều hơn cho doanh nghiệp và vận hành theo các nguyên tắc của thị trường.

Xung quanh những yêu cầu đặt ra đối với quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn mới, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với TS. Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam.

TS. Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam.

Thay đổi tư duy tiếp cận

- Nghị quyết 79 được đánh giá là bước ngoặt trong đổi mới doanh nghiệp Nhà nước. Theo ông, đâu là điểm mới quan trọng nhất?

TS. Lê Duy Bình: Theo tôi, điểm quan trọng nhất là Nghị quyết 79 yêu cầu doanh nghiệp Nhà nước từng bước áp dụng các chuẩn mực quản trị theo OECD. Đây không chỉ là thay đổi về kỹ thuật quản trị mà là sự thay đổi về tư duy.

Điều cốt lõi của các chuẩn mực này là phải tách bạch rõ chức năng quản lý Nhà nước, chức năng đại diện chủ sở hữu vốn với hoạt động điều hành doanh nghiệp.

Khi ranh giới này được xác lập rõ ràng thì sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính sẽ giảm đi, trong khi quyền tự chủ của doanh nghiệp được mở rộng hơn. Khi đó, các quyết định đầu tư và kinh doanh sẽ được đưa ra nhanh hơn, bám sát tín hiệu thị trường thay vì phải phụ thuộc quá nhiều vào các quy trình hành chính.

Theo tôi, đây chính là nút thắt lớn nhất trong quản trị doanh nghiệp Nhà nước hiện nay.

Nếu tháo gỡ được nút thắt này, chúng ta sẽ trả lại không gian điều hành thực chất cho các doanh nghiệp như Viettel, Petrovietnam hay nhiều doanh nghiệp Nhà nước khác. Các quyết định kinh doanh sẽ linh hoạt hơn, gần thị trường hơn và nâng cao đáng kể hiệu quả hoạt động.

- Nghị quyết 79 cũng nhấn mạnh doanh nghiệp Nhà nước phải cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Ông nhìn nhận yêu cầu này như thế nào?

TS. Lê Duy Bình: Đây là một thay đổi rất đáng chú ý. Trước đây, nhiều người vẫn cho rằng doanh nghiệp Nhà nước có những lợi thế nhất định nhờ vai trò sở hữu của Nhà nước. Nhưng Nghị quyết 79 đặt doanh nghiệp Nhà nước vào môi trường cạnh tranh trực tiếp và bình đẳng với doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp FDI.

Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp Nhà nước không thể dựa vào lợi thế về sở hữu mà phải cạnh tranh bằng chính năng lực quản trị, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư và chất lượng sản phẩm.

Tôi cho rằng chính áp lực cạnh tranh và kỷ luật của thị trường sẽ là động lực quan trọng giúp doanh nghiệp Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn.

Nghị quyết cũng đặt mục tiêu xây dựng những doanh nghiệp Nhà nước có quy mô thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới hoặc dẫn đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ASEAN. Muốn đạt được mục tiêu này thì doanh nghiệp phải vận hành theo các chuẩn mực quản trị hiện đại chứ không thể duy trì cách quản trị cũ.

- Theo ông, ngoài quyền tự chủ, doanh nghiệp Nhà nước còn cần thay đổi điều gì để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế?

TS. Lê Duy Bình: Một yêu cầu rất quan trọng là nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Thời gian qua, doanh nghiệp Nhà nước đã có nhiều tiến bộ trong công bố thông tin nhưng vẫn còn khoảng cách khá lớn so với các chuẩn mực quốc tế. Khi doanh nghiệp minh bạch hơn thì không chỉ cơ quan quản lý mà cả thị trường cũng sẽ tham gia giám sát.

Các ngân hàng, đối tác, khách hàng, nhà cung cấp và toàn xã hội sẽ tạo nên một cơ chế giám sát tự nhiên. Điều này buộc doanh nghiệp phải sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và nâng cao trách nhiệm trong mọi quyết định kinh doanh.

- Có ý kiến cho rằng doanh nghiệp Nhà nước vẫn đang có nhiều lợi thế hơn khu vực tư nhân. Quan điểm của ông ra sao?

TS. Lê Duy Bình: Tôi cho rằng nhận định doanh nghiệp Nhà nước luôn có nhiều lợi thế hơn khu vực tư nhân là chưa phản ánh đầy đủ thực tế. Đúng là ở một số lĩnh vực, doanh nghiệp Nhà nước có những điều kiện thuận lợi nhất định về quy mô, thương hiệu hay khả năng tiếp cận một số nguồn lực. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, họ cũng đang chịu không ít ràng buộc mà doanh nghiệp tư nhân không gặp phải, đặc biệt là trong quá trình vận hành và phát triển.

Một ví dụ rất rõ là vấn đề thu hút và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Hiện nay, cơ chế tiền lương, tuyển dụng và đãi ngộ của doanh nghiệp Nhà nước vẫn chịu nhiều quy định hành chính, khiến việc thu hút các chuyên gia giỏi, nhà quản trị cấp cao hay nhân sự có kinh nghiệm quốc tế trở nên rất khó khăn. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân có thể chủ động xây dựng chính sách lương thưởng theo tín hiệu thị trường, sẵn sàng trả mức thu nhập cạnh tranh để có được những nhân sự tốt nhất.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng dựa nhiều vào tri thức, công nghệ và chất lượng quản trị, con người chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp Nhà nước không có cơ chế đủ linh hoạt để thu hút và giữ chân nhân tài thì sẽ rất khó hoàn thành những mục tiêu lớn mà Nghị quyết 79 đặt ra.

Vì vậy, khi nói đến bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, chúng ta không nên chỉ nhìn ở góc độ tiếp cận vốn, đất đai hay cơ hội đầu tư, mà còn phải tính đến khả năng tiếp cận các nguồn lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực. Nếu doanh nghiệp tư nhân được quyền thuê các chuyên gia quốc tế, các nhà quản trị hàng đầu theo cơ chế thị trường thì doanh nghiệp Nhà nước cũng cần được trao cơ chế tương tự. Chỉ khi đó, họ mới có đủ điều kiện để nâng cao năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.

-Từ kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam có thể học hỏi những mô hình quản trị doanh nghiệp Nhà nước nào?

TS. Lê Duy Bình: Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, tôi cho rằng có ba mô hình quản trị doanh nghiệp Nhà nước mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình đổi mới.

Thứ nhất là mô hình Temasek của Singapore. Điểm nổi bật của mô hình này là tách bạch hoàn toàn chức năng đầu tư, kinh doanh vốn Nhà nước với chức năng quản lý Nhà nước. Temasek hoạt động như một nhà đầu tư chuyên nghiệp, đưa ra các quyết định dựa trên hiệu quả kinh doanh và nguyên tắc thị trường, thay vì chịu sự can thiệp trực tiếp từ các cơ quan quản lý hành chính. Nhờ đó, doanh nghiệp có quyền tự chủ rất cao nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm đầy đủ về hiệu quả sử dụng vốn.

Thứ hai là mô hình của Trung Quốc. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã từng bước chuyên nghiệp hóa hoạt động quản lý vốn Nhà nước thông qua cơ quan đại diện chủ sở hữu, đồng thời đẩy mạnh cải cách quản trị tại các tập đoàn lớn. Mục tiêu của họ là xây dựng những doanh nghiệp Nhà nước có quy mô toàn cầu nhưng vẫn hoạt động theo cơ chế thị trường, có khả năng cạnh tranh quốc tế và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba là mô hình của các nước Bắc Âu. Đây là mô hình mà tôi đặc biệt đánh giá cao bởi trọng tâm không nằm ở việc Nhà nước sở hữu bao nhiêu doanh nghiệp, mà ở cách thức quản trị các doanh nghiệp đó. Các doanh nghiệp Nhà nước được trao quyền tự chủ rất lớn, hoạt động bình đẳng với doanh nghiệp tư nhân, đồng thời phải tuân thủ các tiêu chuẩn rất cao về minh bạch, công bố thông tin và trách nhiệm giải trình. Chính sự minh bạch và kỷ luật thị trường đã tạo nên hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp Nhà nước tại các quốc gia này.

Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng điểm chung của cả ba mô hình là đều hướng tới chuyên nghiệp hóa quản trị doanh nghiệp Nhà nước. Doanh nghiệp được trao quyền tự chủ nhiều hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, song đi cùng với đó là cơ chế giám sát chặt chẽ hơn, trách nhiệm giải trình cao hơn và phải tuân thủ đầy đủ các quy luật của thị trường. Nói cách khác, quyền hạn và trách nhiệm luôn đi song hành với nhau.

Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng Việt Nam không nên sao chép nguyên mẫu bất kỳ mô hình nào. Mỗi quốc gia có bối cảnh phát triển, hệ thống pháp luật, trình độ quản trị và cơ cấu nền kinh tế khác nhau. Điều quan trọng là chúng ta cần lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp nhất, vận dụng một cách linh hoạt trên cơ sở điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Theo tôi, tinh thần cốt lõi mà chúng ta nên học hỏi là xây dựng một cơ chế quản trị hiện đại, trong đó Nhà nước thực hiện tốt vai trò của chủ sở hữu vốn, còn doanh nghiệp được trao quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh, chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động và cạnh tranh bình đẳng với mọi thành phần kinh tế. Đây cũng chính là định hướng mà Nghị quyết 79 đang hướng tới trong tiến trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước.

Muốn doanh nghiệp Nhà nước dẫn dắt tăng trưởng, phải chấm dứt can thiệp hành chính vào điều hành.

Tổ chức thực hiện phải ngày càng quyết liệt

- Một điểm mới khác của Nghị quyết 79 là chuyển từ tư duy bảo toàn vốn tuyệt đối sang chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Ông đánh giá như thế nào về thay đổi này?

TS. Lê Duy Bình: Theo tôi, đây là một thay đổi rất quan trọng. Nếu doanh nghiệp Nhà nước muốn đổi mới sáng tạo thì phải được phép chấp nhận rủi ro ở một mức độ nhất định. Không thể vừa yêu cầu doanh nghiệp tiên phong về công nghệ, đổi mới sáng tạo nhưng lại không cho phép họ thất bại.

Điều cần làm là xây dựng cơ chế quản trị rủi ro minh bạch, xác định rõ trách nhiệm và giới hạn chấp nhận rủi ro, thay vì tư duy "không được phép sai". Đặc biệt ở các doanh nghiệp công nghệ như Viettel, VNPT hay Petrovietnam, việc xây dựng văn hóa dám nghĩ, dám làm, dám chấp nhận rủi ro là điều rất cần thiết.

- Theo ông, đâu là yếu tố quyết định để Nghị quyết 79 thực sự phát huy hiệu quả?

TS. Lê Duy Bình: Theo tôi, điều quan trọng nhất lúc này không còn là ban hành thêm các chủ trương hay chính sách mới, bởi định hướng cải cách mà Nghị quyết 79 đặt ra đã khá đầy đủ và rõ ràng. Điều cần thiết hơn cả là phải tổ chức thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ và nhất quán để những tư tưởng cải cách đó thực sự đi vào hoạt động của doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, khoảng cách giữa chủ trương và thực thi luôn là một trong những điểm nghẽn lớn nhất. Không ít chính sách được đánh giá là rất tiến bộ, nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc do hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, quy trình thực hiện còn phức tạp hoặc tâm lý e ngại trách nhiệm của các cấp thực thi. Nếu những rào cản này không được tháo gỡ thì ngay cả những chủ trương đúng đắn cũng rất khó phát huy hiệu quả.

Đối với Nghị quyết 79 cũng vậy, điều cốt lõi là phải cụ thể hóa các nguyên tắc về quản trị hiện đại, quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát thành những quy định có thể áp dụng ngay trong thực tiễn. Đồng thời, cần tạo ra một môi trường để doanh nghiệp Nhà nước thực sự vận hành theo cơ chế thị trường, được quyền chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng cũng phải chịu đầy đủ kỷ luật của thị trường.

Tôi tin rằng, nếu những tinh thần cải cách của Nghị quyết 79 được triển khai một cách thực chất, doanh nghiệp Nhà nước sẽ từng bước nâng cao năng lực quản trị, cải thiện sức cạnh tranh và đủ khả năng đảm nhận vai trò dẫn dắt, kiến tạo tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế. Đó cũng chính là mục tiêu lớn nhất mà Nghị quyết 79 hướng tới, và là điều mà chúng ta kỳ vọng sẽ tạo nên một diện mạo mới cho khu vực doanh nghiệp Nhà nước trong những năm tới.

Trân trọng cảm ơn ông!

TheoKỳ Thư (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global