'Ưu đãi đầu tư phải gắn với kết quả thực hiện cam kết'
Thứ 3, 03/11/2026
Các đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt theo hướng gắn hỗ trợ với kết quả thực hiện cam kết, có tiêu chí đánh giá cụ thể và cơ chế thu hồi tương ứng. Cùng với đó, việc rút ngắn thủ tục đầu tư cần được phân định rõ với quyền lựa chọn nhà đầu tư và tiếp cận đất đai.
Tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, ngày 2/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Ưu đãi phải gắn với hiệu quả thực chất
Một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là hoàn thiện cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo hướng nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và tạo tác động lan tỏa đối với nền kinh tế.
Góp ý về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17 của dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Văn Huy (đoàn Hưng Yên) cho rằng, việc áp dụng ưu đãi trên cơ sở kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị gia tăng trong nước là hướng tiếp cận phù hợp.
Tuy nhiên, dự thảo cần làm rõ mức độ thực hiện cam kết như thế nào được coi là đạt yêu cầu, trường hợp nhà đầu tư chỉ thực hiện một phần cam kết thì xử lý ra sao; việc thu hồi ưu đãi áp dụng đối với toàn bộ hay chỉ phần ưu đãi tương ứng với nghĩa vụ không hoàn thành.
Theo đại biểu, nếu một dự án công nghệ cao được hưởng ưu đãi lớn nhưng không đạt cam kết về đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp trong nước, việc chỉ căn cứ vào vốn giải ngân và sản lượng có thể dẫn đến đánh giá dự án thành công, trong khi lợi ích lan tỏa chưa đạt yêu cầu.
Do đó, cần bổ sung quy định đánh giá theo từng cam kết, mức độ hoàn thành và trách nhiệm xử lý tương ứng. Đồng thời xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực chất của dự án theo ngành, lĩnh vực, chú trọng giá trị gia tăng trong nước, hoạt động R&D, chuyển giao công nghệ, chất lượng nhân lực, liên kết doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng tài nguyên.
"Hai dự án có cùng quy mô vốn đầu tư nhưng mức độ đóng góp cho nền kinh tế có thể rất khác nhau. Một dự án chủ yếu gia công, nhập khẩu linh kiện sẽ không thể được đánh giá tương đương với dự án có hoạt động nghiên cứu, đào tạo kỹ sư và sử dụng nhà cung cấp trong nước nếu chỉ nhìn vào vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu", đại biểu đoàn Hưng Yên phân tích.
Thu hút đầu tư không chỉ là thu hút vốn lớn mà phải tạo ra giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam.
Đồng quan điểm, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn TP. Hải Phòng) đề nghị xác định rõ kết quả đầu ra, thời điểm kiểm chứng và trách nhiệm xác nhận đối với từng nhóm cam kết.
Theo đại biểu Nga, chi phí đào tạo có đầy đủ chứng từ chưa đồng nghĩa với việc người lao động đạt được kỹ năng cam kết. Tương tự, chi phí tư vấn cải tiến kỹ thuật đã phát sinh hợp lệ cũng chưa chứng minh doanh nghiệp trong nước nâng cao được năng lực sản xuất. Với chuyển giao công nghệ, kết quả cần được đánh giá thông qua khả năng tiếp nhận, khai thác và sử dụng của bên nhận.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, cần phân biệt điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách với các chỉ tiêu cam kết có thể thực hiện theo từng giai đoạn, hạng mục. Nếu nhà đầu tư không đáp ứng điều kiện bắt buộc, phải thu hồi khoản ưu đãi, hỗ trợ đã hưởng không đúng. Với những chỉ tiêu có thể tách riêng, cần xác định khoản hỗ trợ tương ứng phải điều chỉnh hoặc thu hồi.
Không nên để việc không hoàn thành một chỉ tiêu dẫn đến thu hồi toàn bộ khoản hỗ trợ đối với những hạng mục độc lập đã thực hiện đúng. Ngược lại, trường hợp kê khai gian dối phải được xử lý nghiêm.
Giải trình về chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo Luật hướng đến thu hút đầu tư vào những ngành, nghề, lĩnh vực ưu tiên, nhất là đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ cao.
Tuy nhiên, bên cạnh quy mô vốn, thời gian và lĩnh vực ưu đãi, yêu cầu đặc biệt quan trọng là nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, gắn hoạt động của doanh nghiệp FDI với phát triển sản xuất trong nước.
Theo Bộ trưởng, cần có những tiêu chí thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp nước ngoài, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và tác động lan tỏa của các dự án đầu tư đối với nền kinh tế.
Tiếp thu ý kiến của các đại biểu, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra, có thể kiểm tra, giám sát và lượng hóa được. Đồng thời, cần quy định rõ điều kiện chấm dứt ưu đãi, hỗ trợ trong trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng yêu cầu hoặc không thực hiện đúng cam kết.
Bộ trưởng nhấn mạnh, việc quy định chặt chẽ ngay từ quá trình xây dựng chính sách là cần thiết để bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ đầu tư, hạn chế tranh chấp, khiếu kiện. Đặc biệt, các tranh chấp đầu tư quốc tế thường rất phức tạp, do đó cần có cơ chế xử lý rõ ràng đối với trường hợp nhà đầu tư đã hưởng ưu đãi nhưng không đáp ứng điều kiện cam kết.
"Các tranh chấp đầu tư quốc tế thường hết sức phức tạp"
Theo Bộ trưởng, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, nhu cầu vốn đầu tư là rất lớn. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt quy mô gấp khoảng 2,21 lần giai đoạn 2021-2025; riêng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân thực tế phải đạt bình quân 30-40 tỷ USD mỗi năm.
Trong khi đó, cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới ngày càng gay gắt. Nhiều nước đang triển khai các cơ chế ưu đãi để thu hút những lĩnh vực có tính tương đồng với Việt Nam như điện tử, máy tính, điện thoại, chip bán dẫn và chuyển đổi số.
Điều này đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện chính sách ưu đãi để nâng cao năng lực cạnh tranh, nhất là trong thu hút các dự án quy mô lớn, công nghệ cao.
Liên quan đến chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm, Bộ trưởng cho biết, dự thảo Luật hướng đến thu hút đầu tư vào những ngành, nghề, lĩnh vực ưu tiên, nhất là đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ cao.
Tuy nhiên, bên cạnh quy mô vốn, thời gian và lĩnh vực ưu đãi, yêu cầu đặc biệt quan trọng là phải nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, gắn hoạt động của doanh nghiệp FDI với phát triển sản xuất trong nước.
Theo Bộ trưởng, cần có những tiêu chí để thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp nước ngoài, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và tác động lan tỏa của các dự án đầu tư đối với nền kinh tế.
Tiếp thu ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội về cơ chế kiểm soát chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, Bộ trưởng khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra, có thể kiểm tra, giám sát và lượng hóa được.
Đặc biệt, phải quy định rõ các điều kiện chấm dứt ưu đãi, hỗ trợ trong trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng yêu cầu, điều kiện hoặc không thực hiện đúng cam kết.
Việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra, có thể kiểm tra, giám sát và lượng hóa được.
Theo Bộ trưởng, đây là vấn đề cần được quy định chặt chẽ ngay trong quá trình xây dựng chính sách, nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ đầu tư, đồng thời hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu kiện.
"Khi nhà đầu tư đã được hưởng ưu đãi nhưng không đáp ứng các điều kiện cam kết, nếu thiếu cơ chế xử lý rõ ràng sẽ rất khó khăn trong quá trình thực hiện. Đặc biệt, các tranh chấp đầu tư quốc tế thường hết sức phức tạp", Bộ trưởng Tài chính nhấn mạnh.
Do đó, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu tối đa ý kiến của đại biểu Quốc hội để hoàn thiện quy định về điều kiện hưởng ưu đãi, tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện, cơ chế kiểm tra, giám sát và chấm dứt, thu hồi ưu đãi đối với các trường hợp vi phạm cam kết.
Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt có gì đáng chú ý?
Theo Điều 17 dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tập trung vào các nội dung:
Đối tượng ưu tiên: Các dự án thuộc ngành, nghề, lĩnh vực ưu tiên, nhất là đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ cao.
Gắn ưu đãi với cam kết: Nhà đầu tư phải thực hiện các cam kết về nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi xanh và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng.
Đánh giá bằng kết quả đầu ra: Việc hỗ trợ phải có tiêu chí cụ thể, có thể kiểm tra, giám sát và lượng hóa kết quả thực hiện.
Kiểm soát và thu hồi ưu đãi: Quy định rõ điều kiện chấm dứt, điều chỉnh hoặc thu hồi ưu đãi, hỗ trợ khi nhà đầu tư không đáp ứng điều kiện hoặc không thực hiện đúng cam kết.
Bảo đảm hiệu quả lan tỏa: Hướng tới nâng cao giá trị gia tăng trong nước, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao năng lực sản xuất nội địa.



