VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 6, 27/03/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpBa kịch bản cho hàng xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ sau 150 ngày thuế tạm thời

Ba kịch bản cho hàng xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ sau 150 ngày thuế tạm thời

08:40:00 AM GMT+7Thứ 6, 27/03/2026

Việc Mỹ ban hành cơ chế áp thuế tạm thời mức 15% trên diện rộng, thời hạn tối đa 150 ngày tạo ra những biến động đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu nhiều quốc gia. Nhiều chuyên gia cho rằng kịch bản thách thức nhất là khả năng một số ngành hàng từ Việt Nam chịu thuế cao hơn.

Từ ngày 24/2, hàng hóa các nước nhập khẩu vào Mỹ chịu thuế tạm thời 10%, sau khi Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ các chính sách thuế nhập khẩu dựa trên Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) của Tổng thống Donald Trump. Cơ chế này căn cứ Điều 122 Đạo luật Thương mại năm 1974, với thời hạn tối đa 150 ngày, tức hiệu lực đến ngày 24/7.

Tại hội thảo “Giải pháp ứng phó chính sách thuế tạm thời 150 ngày của Hoa Kỳ” vừa diễn ra, các chuyên gia kinh tế nhận định đây không phải là “khoảng nghỉ”, mà là giai đoạn bản lề buộc doanh nghiệp phải hành động nhanh và quyết liệt.

Hàng hóa các nước nhập khẩu vào Mỹ chịu thuế tạm thời 10% với thời hạn tối đa 150 ngày.

Hàng hóa các nước nhập khẩu vào Mỹ chịu thuế tạm thời 10% với thời hạn tối đa 150 ngày.

Bà Cao Thị Phi Vân, Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Tp.HCM (ITPC) cho rằng, với mức thuế danh nghĩa giảm từ 20% xuống 15%, Việt Nam nằm trong nhóm hưởng lợi trong ASEAN. Trước đây, Việt Nam chịu mức 20% trong khi phần lớn các nước trong khu vực chịu khoảng 19% - chênh lệch nhỏ nhưng đủ tạo bất lợi cạnh tranh. Việc áp dụng mức thuế đồng đều 15%, giúp môi trường cạnh tranh xuất khẩu trong khu vực trở nên cân bằng hơn.

Trong ngắn hạn, điều này tạo dư địa để một số doanh nghiệp trên địa bàn tạm thời duy trì biên lợi nhuận, giảm áp lực điều chỉnh giá bán ngay lập tức và có điều kiện ổn định kế hoạch giao hàng đối với các đơn hàng đang thực hiện. Qua đó, góp phần bảo vệ nhịp tăng trưởng xuất khẩu của Tp.HCM trong giai đoạn chuyển tiếp, hạn chế tác động đột ngột tức thời lên sản xuất và dòng tiền doanh nghiệp.

Tuy nhiên, về trung và dài hạn có những rủi ro là mức thuế tối đa 15% áp dụng chung cho toàn cầu có thể tác động đến hàng hóa của Việt Nam, thu hẹp lợi thế cạnh tranh tương đối so với các nước khác, nhất là đối với các ngành có biên lợi nhuận ít và cạnh tranh về giá cao. Sau mốc 150 ngày, doanh nghiệp có nguy cơ bị đối tác Hoa Kỳ yêu cầu điều chỉnh giảm giá để chia sẻ chi phí thuế, kéo theo rủi ro suy giảm đơn hàng hoặc gián đoạn hợp đồng nếu không đạt được thỏa thuận thương mại phù hợp. Đồng thời, khó dự báo về khả năng điều chỉnh mức thuế hoặc thay đổi công cụ áp thuế sau giai đoạn chuyển tiếp có thể làm tăng mức độ thận trọng của nhà đầu tư, tác động đến dòng vốn FDI định hướng xuất khẩu và quyết định mở rộng sản xuất trên địa bàn thành phố.

Chính sách 150 ngày được xác định là giai đoạn chuyển tiếp trong điều hành thương mại của Hoa Kỳ. Tính tạm thời về mặt thời hạn không đồng nghĩa với ổn định về mặt chính sách. Ngược lại, đây là giai đoạn thị trường có xu hướng tái định giá hợp đồng, rà soát điều kiện mua bán và điều chỉnh kế hoạch cung ứng để phòng ngừa biến động sau thời hạn 150 ngày. Trong bối cảnh chính sách được triển khai trên diện rộng, việc theo dõi sát diễn biến và chuẩn bị kịch bản sau 150 ngày trở nên đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các ngành hàng có mức độ phụ thuộc lớn vào thị trường Hoa Kỳ và các chuỗi cung ứng có cấu trúc phức tạp.

Giáo sư Trần Ngọc Anh (Đại học Indiana, Hoa Kỳ) phân tích, sau phán quyết ngày 20/2/2026 của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ vô hiệu hóa cơ chế áp thuế khẩn cấp theo Đạo luật IEEPA, Mỹ đã nhanh chóng thay thế bằng phụ phí 10% theo Chương 122, đồng thời khởi động điều tra theo Chương 301 về tình trạng dư thừa năng lực và lao động.

Điều này tạo ra một nghịch lý: thuế có thể giảm trong ngắn hạn, nhưng rủi ro chính sách lại gia tăng về tổng thể. Theo Giáo sư Trần Ngọc Anh, sau ngày 24/7/2026, chính sách thương mại của Hoa Kỳ có thể diễn biến theo ba kịch bản:

Thứ nhất, với xác suất cao nhất, Mỹ có thể áp thuế trừng phạt từ 20–30% theo Chương 301, tập trung vào các ngành như thép, xe điện và linh kiện bán dẫn.

Thứ hai, trong trường hợp áp lực lạm phát tăng cao, đặc biệt nếu giá dầu Brent vượt ngưỡng 140 USD/thùng, Mỹ có thể nới lỏng chính sách, đưa thuế về mức tối huệ quốc (MFN).

Thứ ba, hai bên có thể đạt được các thỏa thuận thương mại song phương nhằm cân bằng cán cân thương mại, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng hóa Việt Nam.

Trong bối cảnh này, Việt Nam đối mặt với nhiều rủi ro đáng kể. Mức thặng dư thương mại hàng hóa lên tới 178 tỷ USD trong năm 2025 khiến Việt Nam trở thành đối tượng trọng điểm trong các cuộc điều tra liên quan đến “dư thừa năng suất” từ phía Hoa Kỳ.

Cơ cấu xuất khẩu cũng bộc lộ bất cập khi khu vực FDI chiếm tới 77,3% kim ngạch, trong khi khu vực trong nước chỉ chiếm 22,7%. Điều này khiến lợi ích kinh tế và rủi ro pháp lý phân bổ không tương xứng.

Ngoài ra, một rủi ro khác là việc Hoa Kỳ ngày càng siết chặt kiểm soát xuất xứ và chống lẩn tránh thuế.

Theo TS. Huỳnh Thế Du (Đại học Wisconsin Oshkosh), nếu tình trạng hàng hóa từ nước thứ ba trung chuyển qua Việt Nam để né thuế gia tăng, uy tín “Made in Vietnam” có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng, kéo theo nguy cơ bị điều tra diện rộng.

Bên cạnh đó, các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, đặc biệt trong bối cảnh mở rộng Đạo luật Phòng chống Lao động Cưỡng bức Người Duy Ngô Nhĩ (UFLPA), đang trở thành rào cản lớn đối với các ngành như dệt may và da giày. Nếu không chứng minh được chuỗi cung ứng đến tận nhà cung cấp nguyên liệu cấp 2, cấp 3, hàng hóa có thể bị giữ ngay tại cửa khẩu Mỹ.

Quan sát từ các nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu như Singapore và New Zealand, TS. Huỳnh Thế Du cho rằng sự phản ứng nhanh nhạy của cơ quan quản lý là chìa khóa. Chẳng hạn như Singapore đã lập tức cập nhật hướng dẫn hải quan và báo cáo thị trường, trong khi New Zealand cung cấp các chương trình tư vấn pháp lý và rà soát hợp đồng cho doanh nghiệp.

TS. Huỳnh Thế Du đưa ra các khuyến nghị chiến lược trọng tâm nhằm định hướng hành động đối với đối với Chính phủ và cơ quan quản lý đó là thành lập cơ chế “Ban chỉ đạo ứng phó thuế quan 150 ngày”, kiểm soát xuất xứ và thúc đẩy ngoại giao kinh tế.

Còn đối với cộng đồng doanh nghiệp, cần khẩn trương đàm phán lại các điều khoản hợp đồng với đối tác Mỹ, đặc biệt lưu ý các điều khoản Incoterms, cơ chế chia sẻ chi phí thuế và điều chỉnh giá. Quản lý minh bạch, chặt chẽ hồ sơ nguồn gốc nguyên liệu (Bill of Materials) để sẵn sàng minh chứng xuất xứ hợp pháp khi được yêu cầu. Đồng thời, nghiên cứu tận dụng kho ngoại quan để linh hoạt thời điểm thông quan. Xây dựng ngay các phương án dự phòng cho kịch bản mức thuế bị nâng lên hoặc khi Mỹ áp dụng các công cụ thuế quan khắt khe hơn sau ngày 24/7/2026. Bên cạnh đó, bài toán đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cần được đẩy mạnh để giảm rủi ro phụ thuộc.

TheoTạp chí Tài chính Doanh nghiệp
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global