VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 3, 29/09/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpCà Mau: Từ lợi thế 'thuận thiên' đến thương hiệu 'Lúa thơm - tôm sạch'

Cà Mau: Từ lợi thế 'thuận thiên' đến thương hiệu 'Lúa thơm - tôm sạch'

02:10:00 PM GMT+7Thứ 3, 29/09/2026

Ngày 29/9, tại xã Hồng Dân, Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau và Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) tổ chức trình diễn công nghệ canh tác lúa chính xác và hội thảo thúc đẩy hệ thống lúa-tôm bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh thương hiệu “Lúa thơm – tôm sạch”, nâng cao thu nhập cho nông dân.

Cà Mau: Từ lợi thế 'thuận thiên' đến thương hiệu 'Lúa thơm - tôm sạch'- Ảnh 1.Trình diễn công nghệ cơ giới hóa sạ hàng kết hợp vùi phân trên đất lúa-tôm tại Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Hòa Phát, xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau - Ảnh: chinhphu.vn/Lê Sơn

Với khoảng 90.000 ha lúa-tôm, Cà Mau đang thúc đẩy ứng dụng công nghệ canh tác chính xác, phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn và liên kết chuỗi giá trị để xây dựng thương hiệu "Lúa thơm - tôm sạch". Từ mô hình tại xã Hồng Dân, địa bàn có đông đồng bào Khmer sinh sống, nơi vẫn còn một bộ phận hộ nghèo, cận nghèo thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất lúa–tôm, giảm chi phí đầu vào và tăng giá trị sản phẩm có ý nghĩa thiết thực đối với sinh kế của người dân địa phương.

Sự kiện thu hút hơn 100 đại biểu từ các cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân, tập trung tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ hệ sinh thái mặn-ngọt và phát triển thị trường cho sản phẩm lúa-tôm Đồng bằng sông Cửu Long.

Một ha lúa-tôm tạo ra những giá trị gì?

Theo ông Nguyễn Trần Thức, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Cà Mau, địa phương hiện có khoảng 90.000 ha lúa trên đất nuôi tôm, trong tổng diện tích gieo trồng lúa 314.982 ha và 418.000 ha nuôi tôm.

Giai đoạn 2020–2025, diện tích lúa-tôm của tỉnh tăng từ 77.266 ha lên 88.252 ha; năng suất lúa bình quân đạt khoảng 5,1 tấn/ha, tăng gần 26%.

Sau hơn 25 năm phát triển, mô hình lúa-tôm đã thể hiện rõ đặc trưng sản xuất thuận thiên của vùng đất Cà Mau. Mùa khô, nông dân tận dụng nguồn nước mặn để nuôi tôm; mùa mưa, khi có nước ngọt hoặc nước lợ phù hợp, chuyển sang trồng lúa.

Hai đối tượng sản xuất bổ trợ cho nhau. Chất hữu cơ sau vụ tôm cung cấp dinh dưỡng cho lúa, trong khi rơm rạ và hệ sinh thái đồng ruộng sau vụ lúa góp phần cải thiện môi trường cho vụ tôm tiếp theo. Luân canh còn giúp hạn chế dịch hại, giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.

Điểm đáng chú ý được ông Nguyễn Trần Thức nhấn mạnh là sự thay đổi tư duy phát triển, từ chú trọng sản lượng sang chất lượng, hiệu quả kinh tế và giá trị toàn bộ hệ sinh thái trên mỗi hecta đất.

Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Cà Mau, một mô hình kết hợp hai vụ tôm sú, sản xuất lúa, nuôi tôm càng xanh và cua đạt tổng doanh thu 162.059.501 đồng/ha, lợi nhuận 109.664.502 đồng/ha. Trong đó, tôm sú đóng góp 51% lợi nhuận, lúa 26,4%, tôm càng xanh 12,1% và cua 10,5%.

Đây là kết quả của mô hình đa sản phẩm được giới thiệu tại hội thảo, cho thấy khả năng khai thác nhiều nguồn thu trên cùng diện tích, không phải mức lợi nhuận bình quân của toàn vùng.

Theo ông Nguyễn Trần Thức, giá trị của hệ thống lúa-tôm còn nằm ở khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa nguồn nước, phục hồi sức khỏe đất và phát triển cảnh quan sinh thái.

Vì vậy, định hướng giai đoạn 2026–2030 của Cà Mau không phải tăng diện tích bằng mọi giá, mà phát triển vùng sản xuất dựa trên điều kiện đất, nước, hạ tầng và nhu cầu thị trường, hướng tới nâng cao giá trị trên mỗi hecta lúa-tôm.

Đưa công nghệ canh tác chính xác xuống đồng ruộng

Tại Hợp tác xã Hòa Phát, điểm nhấn của chương trình là trình diễn công nghệ cơ giới hóa sạ hàng kết hợp vùi phân (mDSR-FDP). Mô hình có sự phối hợp của IRRI, các đơn vị chuyên môn, Công ty Máy nông nghiệp Tư Sang và Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền.

Với một lần vận hành, máy vừa gieo hạt theo hàng, vừa đưa phân bón xuống đất. Hạt giống được đặt ở độ sâu khoảng 1–2 mm, phân bón được vùi sâu khoảng 3–5 cm. Việc bố trí hàng rộng, hàng hẹp tạo điều kiện để cây tiếp nhận ánh sáng, oxy tốt hơn, trong khi phân bón được đưa gần vùng rễ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng.

Theo kỹ sư Nguyễn Hồng Thiện, Giám đốc Công ty Máy nông nghiệp Tư Sang, máy có kết cấu nhỏ gọn, trọng lượng nhẹ nhưng vẫn giữ tính năng kỹ thuật khác: Gieo sạ hàng khí động kết hợp vùi phân bón để thích nghi trên nền lúa tôm.

Máy được thiết kế nhỏ gọn, rất cơ động trên đồng ruộng và di chuyển nội đồng giúp cho năng suất cao. Máy có thể kết hợp với máy kéo có sẵn địa phương và dễ dàng sử dụng, bảo trì. Với thiết kế này giúp cho hạ giá thành, khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận cho người làm dịch vụ.

Báo cáo của IRRI cho biết, quản lý dinh dưỡng, thời điểm xuống giống và điều kiện nguồn nước là những yếu tố cần đặc biệt quan tâm để thu hẹp chênh lệch năng suất lúa trong hệ thống lúa-tôm.

Từ dữ liệu nghiên cứu, IRRI đề xuất kết hợp quản lý nước, thời vụ và dinh dưỡng, xây dựng các gói kỹ thuật phù hợp với điều kiện sinh thái từng tiểu vùng, thay vì áp dụng một quy trình giống nhau cho mọi địa bàn.

Theo đó, 8 mô hình cơ giới hóa sạ hàng kết hợp vùi phân, mỗi mô hình 50 ha, đã được triển khai trong giai đoạn 2024–2026 thuộc chương trình một triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Những kết quả thử nghiệm được giới thiệu cho thấy tiềm năng giảm lượng giống, phân bón và nâng cao năng suất. Tuy nhiên, hiệu quả của công nghệ trong điều kiện đặc thù của vùng lúa-tôm tại xã Hồng Dân cần tiếp tục được theo dõi, đánh giá và điều chỉnh.

Đối với nông dân, hiệu quả kinh tế và khả năng ứng dụng mới là những yếu tố quyết định việc lựa chọn công nghệ.

Ông Võ Đức Toàn, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Hòa Phát (xã Hồng Dân) cho biết, nông dân quan tâm nhất là giải pháp mới có giúp giảm giống, giảm phân bón, giảm công lao động và hạn chế rủi ro hay không. Để duy trì một kỹ thuật tốt lâu dài, hợp tác xã còn cần dịch vụ cơ giới phù hợp, hướng dẫn kỹ thuật thường xuyên và doanh nghiệp đồng hành trong tiêu thụ sản phẩm.

Đây cũng là bài toán thực tế đối với Cà Mau. Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, máy gặt đập liên hợp mới áp dụng được trên khoảng 15% diện tích lúa-tôm. Hạ tầng thủy lợi, giao thông còn hạn chế, trong khi tình trạng thiếu lao động và chi phí nhân công gia tăng.

Cùng với cơ giới hóa, IRRI và các đối tác đang phát triển bản đồ thích nghi lúa-tôm, hệ thống cảnh báo xâm nhập mặn, dự báo nguồn nước, công cụ quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt và các nền tảng khuyến nông số. Những công cụ này hướng tới hỗ trợ nông dân lựa chọn thời vụ, quản lý vật tư và đưa ra quyết định chính xác hơn tại đồng ruộng.

Cà Mau: Từ lợi thế 'thuận thiên' đến thương hiệu 'Lúa thơm - tôm sạch'- Ảnh 2.

Các đại biểu trao đổi về giải pháp canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu và liên kết chuỗi giá trị nhằm phát triển bền vững hệ thống lúa-tôm vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh: chinhphu.vn/Lê Sơn

Không đánh đổi môi trường nuôi tôm để tăng năng suất lúa

Phát biểu tại chương trình, TS. Madonna Casimero, chuyên gia khoa học IRRI nhấn mạnh, không thể xem cây lúa và con tôm như hai đối tượng sản xuất tách biệt.

Theo bà, những biện pháp áp dụng trong vụ lúa có thể ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện sản xuất của vụ tôm tiếp theo. Vì vậy, nâng cao năng suất lúa không thể đi kèm với việc làm suy giảm chất lượng nước, sức khỏe đất hoặc môi trường sinh thái cần thiết cho con tôm.

TS. Madonna Casimero lưu ý không có một công nghệ phù hợp với mọi nơi. Những kỹ thuật mới cần được điều chỉnh theo điều kiện cụ thể của từng vùng lúa-tôm, kết hợp với giống phù hợp, quản lý nước, phân bón, cỏ dại, sâu bệnh và phụ phẩm sau thu hoạch.

Bà cũng đặt ra yêu cầu đánh giá hiệu quả toàn hệ thống, từ lợi nhuận của nông dân, năng suất tôm, khả năng tiết kiệm lao động và vật tư đến chất lượng đất, nước, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và giá trị sản phẩm trên thị trường.

Cách tiếp cận này có ý nghĩa đối với Cà Mau khi tỉnh đăng ký 54.680 ha tham gia Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao và phát thải thấp đến năm 2030, trong đó có 14.700 ha thuộc vùng lúa-tôm khu vực bắc Cà Mau.

Để triển khai, địa phương định hướng hoàn thiện hạ tầng thủy lợi, giao thông, điện; nâng khả năng chủ động cấp, thoát nước và quản lý mặn-ngọt theo mùa. Đồng thời, chú trọng giống lúa phù hợp, cơ giới hóa, quản lý dinh dưỡng chính xác và chuyển đổi số.

Theo TS. Madonna Casimero, công nghệ chỉ là một phần của quá trình chuyển đổi. Muốn phát triển lúa-tôm bền vững cần gắn khoa học với sản xuất, công nghệ với dịch vụ, sản phẩm với thị trường và các sáng kiến với nguồn lực đầu tư.

Từ ‘Lúa thơm - tôm sạch’ đến chuỗi giá trị bền vững

Ông Lê Thanh Tùng, Chủ tịch VIETRISA đề xuất xây dựng câu chuyện thương mại chung cho lúa và tôm với thông điệp: "Một vùng đất – hai vụ mùa – hai sản phẩm – một hệ sinh thái".

Theo ông, giá trị của một ha lúa-tôm cần được đánh giá đồng thời trên các phương diện sản lượng, hiệu quả kinh tế, chất lượng môi trường và khả năng thích ứng. Những lợi thế này phải được thị trường nhận diện thông qua tiêu chuẩn, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu.

VIETRISA đề xuất phát triển khung hợp tác "Lúa-tôm xanh – bền vững Đồng bằng sông Cửu Long", tập trung nghiên cứu bản đồ sinh thái, giống lúa chuyên biệt, quản trị nước thông minh, hệ thống tôm sinh thái, phát thải, giá trị carbon và chuỗi giá trị sản phẩm.

Giai đoạn 2026–2030, hướng hợp tác được đề xuất là xác định những tiểu vùng phù hợp, đồng thiết kế gói kỹ thuật, tổ chức thử nghiệm và đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội trước khi chuẩn hóa, nhân rộng và kết nối thị trường. Các quy trình phải được điều chỉnh theo điều kiện sinh thái và mùa vụ, không áp dụng cứng nhắc cho toàn vùng.

Tại Cà Mau, định hướng xây dựng thương hiệu "Lúa thơm - tôm sạch" gắn với "Lúa sinh thái Cà Mau" được đặt trong mối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Theo ông Nguyễn Trần Thức, hiện đã có 5 hợp tác xã và 10 công ty trong, ngoài tỉnh tham gia thu mua nguyên liệu lúa-tôm Cà Mau để xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu gạo ST24, ST25, BL9 và các sản phẩm liên quan.

Giai đoạn tới, địa phương hướng tới tổ chức vùng nguyên liệu theo quy trình thống nhất về giống, thời vụ, nhật ký sản xuất và chất lượng; thực hiện truy xuất nguồn gốc từ thửa ruộng, hộ sản xuất, hợp tác xã đến thu hoạch, thu mua, chế biến và sản phẩm cuối cùng.

Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ đầu chuỗi, cùng hợp tác xã thống nhất quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và phương án tiêu thụ. Đây là điều kiện để chuyển từ bán lúa nguyên liệu sang cung cấp sản phẩm đạt chuẩn, có nguồn gốc và thương hiệu rõ ràng.

Từ ruộng trình diễn ở xã Hồng Dân, vấn đề đặt ra không chỉ là đưa thêm một công nghệ mới vào sản xuất. Điều quan trọng hơn là kết nối quản lý nước, giống, dinh dưỡng, cơ giới hóa với tổ chức vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Khi các khâu này được triển khai đồng bộ, lợi thế thuận thiên của vùng lúa-tôm mới có cơ sở chuyển thành giá trị kinh tế bền vững, bảo vệ hệ sinh thái và mang lại sinh kế tốt hơn cho nông dân Đồng bằng sông Cửu Long.

TheoLê Sơn (Báo Chính phủ)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global