[Café Cuối tuần] Khi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hình sự
Thứ 2, 02/11/2026
Đề xuất mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nhằm khắc phục những khoảng trống trong xử lý tội phạm. Cùng với yêu cầu ấy là việc xác định rõ khi nào hành vi của cá nhân làm phát sinh trách nhiệm của doanh nghiệp, để người kinh doanh có thể dự liệu hậu quả pháp lý từ quyết định của mình.
Dự thảo bộ Luật Hình sự (sửa đổi) đang được Quốc hội xem xét đề xuất bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với 24 tội danh. Khi doanh nghiệp bị sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, gây thiệt hại cho người dân và các chủ thể kinh doanh khác, việc chỉ xử lý cá nhân trong một số trường hợp có thể chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu răn đe và khắc phục hậu quả.
Đây là một định hướng có cơ sở. Những doanh nghiệp tuân thủ pháp luật cũng cần được bảo vệ trước các chủ thể thu lợi từ hành vi phạm tội. Môi trường kinh doanh khó có thể lành mạnh nếu người làm ăn ngay thẳng phải cạnh tranh với những doanh nghiệp sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc cố tình vi phạm để gia tăng lợi nhuận.
Nhưng mở rộng trách nhiệm hình sự cũng đồng nghĩa với việc mở rộng phạm vi áp dụng chế tài nghiêm khắc của Nhà nước. Bởi vậy, bên cạnh sự cần thiết của đề xuất, điều đáng quan tâm là căn cứ quy trách nhiệm và những bảo đảm để hoạt động kinh doanh hợp pháp không bị tổn hại bởi việc áp dụng thiếu chính xác.
Từ hành vi cá nhân đến trách nhiệm pháp nhân
Theo báo cáo thẩm tra trình Quốc hội ngày 17/10/2026, dự thảo bổ sung 11 tội danh mới, 63 hành vi, tình tiết định tội, định khung hình phạt mới, đồng thời bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với 24 tội danh. Dự thảo cũng bỏ một số tội danh, loại bỏ một số hành vi khỏi các tội hiện hành và có những điều chỉnh theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đánh giá tổng thể, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhận định dự thảo hình sự hóa nhiều hơn phi hình sự hóa, đề nghị tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc việc bổ sung tội danh và hình sự hóa các hành vi mới. Ý kiến này đặt ra yêu cầu đánh giá kỹ tác động của các sửa đổi, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy kinh tế tư nhân, khuyến khích đổi mới sáng tạo và cải thiện môi trường đầu tư.
Cần phân biệt việc bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với 24 tội danh với việc tạo ra 24 tội phạm mới. Đề xuất này mở rộng danh mục các tội mà pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm. Còn bổ sung tội danh hoặc mở rộng dấu hiệu cấu thành tội phạm là những thay đổi khác, với yêu cầu đánh giá riêng.
Với đề xuất mở rộng trách nhiệm của pháp nhân, câu hỏi cần trả lời ở từng tội danh là khoảng trống nào đang tồn tại, vì sao các biện pháp hiện có chưa đủ để xử lý. Từ đó mới có cơ sở xem xét sự cần thiết, điều kiện áp dụng và hình phạt phù hợp.
Trong thực tế, doanh nghiệp có thể không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng vì biến động thị trường, thiếu vốn, đứt gãy nguồn cung hoặc những nguyên nhân khác. Các tình huống này có thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự, thương mại hoặc trách nhiệm pháp lý khác, nhưng không đương nhiên có nghĩa doanh nghiệp hay người quản lý đã phạm tội. Ngược lại, nếu có đủ căn cứ chứng minh hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc hành vi khác cấu thành tội phạm, khó khăn kinh doanh không thể trở thành lý do loại trừ trách nhiệm.
Ranh giới phải được xác định từ hành vi cụ thể, lỗi, các dấu hiệu cấu thành tội phạm và chứng cứ. Một dự án thất bại chưa đủ để kết luận có tội phạm, cũng như hình thức hợp đồng không thể che chắn cho hành vi phạm tội đã được chứng minh.
Đối với pháp nhân thương mại, còn phải xác định thêm căn cứ quy trách nhiệm cho doanh nghiệp từ hành vi do con người thực hiện. Điều 75 Bộ luật Hình sự quy định pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện: hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.
Như vậy, người quản lý hoặc nhân viên phạm tội không tự động làm phát sinh trách nhiệm hình sự của doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp được hưởng lợi cũng không thay thế yêu cầu chứng minh các điều kiện còn lại. Khi mở rộng danh mục tội danh, cần đặc biệt chú ý căn cứ xác định sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân trong từng nhóm hành vi.
Danh mục tội danh xác định phạm vi pháp nhân có thể bị xử lý; còn trách nhiệm trong một vụ án cụ thể phụ thuộc vào chứng cứ về đầy đủ các điều kiện luật định. Phân biệt được hai việc ấy vừa giúp xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm, vừa giúp doanh nghiệp tổ chức quản trị và kiểm soát nội bộ.
Nếu doanh nghiệp có thể biết trước hành vi nào bị cấm, nghĩa vụ nào phải thực hiện và trường hợp nào dẫn đến trách nhiệm hình sự, pháp luật sẽ phát huy tác dụng phòng ngừa. Ngược lại, nếu khó phân biệt giữa vi phạm hợp đồng với tội phạm, giữa hành vi cá nhân với trách nhiệm pháp nhân, sự thiếu chắc chắn có thể khiến người kinh doanh dè dặt ngay cả trước những cơ hội đầu tư hợp pháp.
Tác động vượt ra ngoài doanh nghiệp
Tác động của việc xử lý pháp nhân đã được cơ quan soạn thảo xem xét trong quá trình chỉnh lý dự thảo. Báo cáo tiếp thu, giải trình ngày 17/10 nêu những điều chỉnh liên quan đến hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn và mức phạt tiền đối với pháp nhân ở một số tội danh, nhằm hạn chế ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và người lao động.
Những điều chỉnh này cần được đánh giá cùng đề xuất mở rộng trách nhiệm hình sự. Số lượng tội danh tăng chưa phản ánh đầy đủ mức độ tác động nếu chưa xem xét điều kiện chịu trách nhiệm, loại hình phạt và mức hình phạt. Xử lý một pháp nhân còn có thể ảnh hưởng tới những người không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, từ người lao động, cổ đông đến khách hàng và chủ nợ.
Nghị quyết 198/2025/QH15 đã đặt ra yêu cầu phân định trách nhiệm của pháp nhân với cá nhân, trách nhiệm hình sự với hành chính và dân sự. Đối với vi phạm, vụ việc về dân sự, kinh tế, Nghị quyết ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính trước; trường hợp thực tiễn áp dụng pháp luật có thể dẫn đến xử lý hình sự hoặc không xử lý hình sự thì không áp dụng xử lý hình sự.
Đối với vi phạm đến mức xử lý hình sự, Nghị quyết còn quy định ưu tiên các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế chủ động, kịp thời, toàn diện trước. Đây là căn cứ quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét khi quyết định khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và các biện pháp xử lý tiếp theo. Quy định này không tạo ra sự miễn trừ đối với tội phạm trong kinh doanh, nhưng đòi hỏi việc khắc phục hậu quả phải được xem xét đầy đủ trong quá trình giải quyết vụ án.
Hoạt động doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng ngay trong quá trình tố tụng. Tài sản bị phong tỏa, hợp đồng không thể thực hiện, sản xuất gián đoạn có thể khiến doanh nghiệp mất nguồn thu, người lao động bị ảnh hưởng việc làm, khách hàng và chủ nợ khó thu hồi tiền. Khả năng tạo nguồn để bồi thường cũng có thể suy giảm.
Bởi vậy, khi mở rộng phạm vi trách nhiệm của pháp nhân, cần rà soát đồng thời các bảo đảm trong quá trình tố tụng. Nghị quyết 198 yêu cầu việc niêm phong, kê biên, tạm giữ, phong tỏa tài sản phải đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, phạm vi; bảo đảm giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp tương ứng với dự kiến hậu quả thiệt hại trong vụ án. Nghị quyết cũng yêu cầu phân biệt tài sản, quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp với của cá nhân người quản lý và giảm thiểu tác động của điều tra đến sản xuất, kinh doanh theo các điều kiện được quy định.
Duy trì hoạt động hợp pháp khi đủ điều kiện có thể giúp bảo toàn tài sản, việc làm và nguồn tiền bồi thường. Điều này cần được xem xét cùng yêu cầu ngăn chặn tội phạm, bảo đảm chứng cứ và giải quyết vụ án, để việc xử lý đạt được mục tiêu mà không gây thêm những thiệt hại không cần thiết.
Doanh nghiệp chân chính cần pháp luật nghiêm minh để được cạnh tranh công bằng. Họ cũng cần biết trước giới hạn trách nhiệm khi bỏ vốn, ký hợp đồng và triển khai dự án. Việc sửa luật cần đáp ứng cả hai yêu cầu: xử lý được hành vi phạm tội thông qua pháp nhân và bảo đảm trách nhiệm của pháp nhân được xác định trên cơ sở chứng minh đầy đủ các điều kiện luật định.
Điều doanh nghiệp cần không phải là sự ưu ái trước pháp luật. Đó là sự bảo đảm rằng mọi hành vi được đánh giá đúng bản chất, mọi trách nhiệm được xác định đúng căn cứ và quyền lợi hợp pháp không bị tổn hại bởi việc áp dụng pháp luật thiếu chính xác.



