Thứ 6, 15/05/2026 | English | Vietnamese
10:40:00 AM GMT+7Thứ 5, 14/05/2026
Sáng nay (13/5) tại Hà Nội, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance tổ chức tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68” nhằm đánh giá những kết quả bước đầu, nhận diện các khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp sau một năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Sau một năm thực hiện, Nghị quyết 68 được đánh giá đã tạo ra nhiều chuyển biến quan trọng cả về chính sách lẫn thực tiễn. Với tinh thần lấy doanh nghiệp làm trung tâm, kiến tạo phát triển và khơi thông các nguồn lực cho khu vực tư nhân, Nghị quyết đang mở ra động lực mới cho tăng trưởng kinh tế.
Để nhìn lại những kết quả bước đầu, nhận diện các khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp sau một năm triển khai Nghị quyết 68, Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance tổ chức toạ đàm "Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68".
Toạ đàm có sự tham gia của các chuyên gia kinh tế:
- TS Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia
- TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương
- TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam
- TS Nguyễn Quốc Việt, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách
- TS Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban IV
- Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty luật SB Law
- TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam
- PGS.TS Nghiêm Thị Thà, Tổng thư ký Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam

9:00
Phát biểu mở đầu tọa đàm, TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) nhận định: “Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân có thể được xem là một nghị quyết mang tính dấu mốc, thậm chí có thể dùng từ ‘vĩ đại’, bởi nó tạo ra sự chuyển biến thực sự mới, một nhận thức mới, một động lực mới và một quyết tâm mới để đưa đất nước chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường hiện đại”.
Tuy nhiên, theo TS Lê Minh Nghĩa, bên cạnh những kỳ vọng lớn, vẫn còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục trao đổi và làm rõ.
Chủ tịch VFCA nhận định, dù hiện nay vai trò của kinh tế tư nhân đã được nhấn mạnh bằng nhiều nhận định tích cực, song nhận thức về khu vực này vẫn chưa thực sự đầy đủ. Kinh tế tư nhân không chỉ là “một động lực quan trọng” mà sâu xa hơn còn là nền tảng của nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển và hướng tới một giai đoạn tăng trưởng mới. Đây là vấn đề cần tiếp tục được nhìn nhận sâu sắc và quyết liệt hơn trong cả tư duy lẫn hành động.
TS Lê Minh Nghĩa cho biết Nghị quyết 68 đã đề cập khá đầy đủ các nội dung, từ thực trạng, nguyên nhân, quan điểm chỉ đạo đến các nhóm giải pháp. “Điều cần quan tâm hiện nay là sau một thời gian triển khai, chính sách đã chuyển động ra sao trong thực tế và những vấn đề nào đang đặt ra để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực phát triển của nền kinh tế. Theo đó, việc đưa các giải pháp vào thực tiễn hiệu quả vẫn là câu chuyện cần tiếp tục thảo luận”, ông nói.
Dẫn chứng cụ thể, TS Lê Minh Nghĩa nhắc tới mục tiêu được nêu trong nghị quyết là đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp và đến năm 2045 có 3 triệu doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo ông, nếu đặt trong tương quan quốc tế, con số này vẫn còn khá khiêm tốn.
Hiện nay, bình quân thế giới cứ 9 người thì có 1 doanh nghiệp; Hàn Quốc khoảng 6,6 - 6,7 người/doanh nghiệp; Singapore khoảng 10 người/doanh nghiệp; Thái Lan khoảng 22 người/doanh nghiệp và Trung Quốc khoảng 24 người/doanh nghiệp. Trong khi đó, Việt Nam hiện ở mức khoảng 100 người mới có một doanh nghiệp. Theo mục tiêu đặt ra, đến năm 2030 tỷ lệ này giảm còn khoảng 50 người/doanh nghiệp và đến năm 2045 là khoảng 33 người/doanh nghiệp.
“Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2045 kết thúc thời kỳ quá độ, những con số trên cho thấy vẫn còn rất nhiều việc phải làm để phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân. Điều quan trọng là phải biến tinh thần của Nghị quyết 68 thành hiện thực và tạo ra động lực phát triển thực chất, thay vì chỉ dừng ở khẩu hiệu hay kỳ vọng”, TS Lê Minh Nghĩa nhấn mạnh.
9:10
Chia sẻ tại toạ đàm, ông Hoàng Anh Minh, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance cho biết, đúng vào thời điểm này một năm trước, VietnamFinance đã tổ chức toạ đàm “Kinh tế tư nhân: Động lực vươn mình từ Nghị quyết 68”. Đây là diễn đàn đầu tiên về Nghị quyết 68, diễn ra chỉ khoảng một tuần sau khi nghị quyết được ban hành.
Theo ông Minh, nhìn lại sau một năm, điều dễ nhận thấy nhất không chỉ là sự thay đổi về mặt chính sách, mà còn là sự chuyển động rõ rệt trong tư duy điều hành và tâm thế của cộng đồng doanh nghiệp.
Kể từ khi Nghị quyết 68 được ban hành, hàng loạt chính sách quan trọng liên quan đến môi trường đầu tư kinh doanh đã liên tiếp được triển khai. Ngày 17/5/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết 198/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, được xem là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và các mô hình khởi nghiệp sáng tạo. Cùng ngày, Chính phủ ban hành Nghị quyết 139/NQ-CP để triển khai nghị quyết này.
Tiếp đó, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, tiếp tục ghi dấu bằng việc cắt giảm mạnh danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện xuống còn 199 ngành nghề từ ngày 1/7/2026, đồng thời chuyển mạnh từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Sang năm 2026, Nghị quyết 02/NQ-CP tiếp tục đặt mục tiêu cải thiện đồng bộ môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn, đồng thời yêu cầu rà soát để loại bỏ các ngành nghề kinh doanh có điều kiện không còn cần thiết.
Trong khi đó, Nghị định 141/2026/NĐ-CP sửa đổi chính sách thuế đối với hộ và cá nhân kinh doanh cũng tạo ra tác động đáng kể khi nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế lên 1 tỷ đồng/năm, mở rộng diện hưởng lợi cho hàng triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ.
Theo ông Hoàng Anh Minh, điều đáng chú ý là các chính sách thời gian qua không còn dừng ở những tuyên bố mang tính định hướng, mà đang tập trung xử lý trực tiếp “điểm nghẽn của điểm nghẽn” – tức chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh. Đây cũng là yếu tố được xem là then chốt để thu hút dòng vốn lớn trong giai đoạn phát triển mới, đồng thời tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân nội địa trở thành lực lượng nòng cốt của nền kinh tế.
“Ngay sau khi Nghị quyết 68 được ban hành, thị trường ghi nhận bầu không khí hưởng ứng rất mạnh mẽ từ cộng đồng doanh nghiệp, giới chuyên gia và các diễn đàn kinh tế”, ông Hoàng Anh Minh nói.
Theo ông Minh, điều thể hiện rõ nhất là sự xuất hiện của hàng loạt kế hoạch đầu tư mới từ khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các tập đoàn lớn. Nhiều dự án hiện nay có quy mô “chưa từng có”, với tổng vốn đầu tư lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, diện tích sử dụng đất hàng nghìn, thậm chí hơn 10.000ha cho một cụm dự án.
Gần đây nhất, HĐND TP. Hà Nội cũng đã thông qua chủ trương triển khai nhiều dự án quy mô lớn, trong đó có dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng với tổng vốn đầu tư hơn 700.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó là dự án khu đô thị thể thao Olympic với tổng vốn đầu tư lên tới gần 1 triệu tỷ đồng.
Ở góc độ doanh nghiệp vừa và nhỏ, theo ông Hoàng Anh Minh, điều đáng chú ý là sự xuất hiện của một tinh thần kinh doanh mới, chủ động hơn và tích cực hơn trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
“Tại toạ đàm, ban tổ chức mong muốn lắng nghe thêm ý kiến từ các chuyên gia về tác động thực tế của Nghị quyết 68 đối với nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp”, ông Minh đặt vấn đề.
Theo đó, một số vấn đề lớn được đặt ra gồm: mức độ hưởng ứng thực chất của khu vực kinh tế tư nhân sau một năm thực hiện nghị quyết; sự khác biệt trong tâm thế và khả năng tận dụng cơ hội giữa nhóm doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa; cũng như câu chuyện làm thế nào để bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận nguồn lực và cơ hội đầu tư.
Ban tổ chức cho rằng, trong thực tế có thể tồn tại những khác biệt nhất định về khả năng tiếp cận cơ hội giữa các nhóm doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là cách thiết kế chính sách để vẫn bảo đảm hiệu quả phát triển chung của nền kinh tế, đồng thời duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh.
“Chúng tôi cũng muốn lắng nghe kinh nghiệm quốc tế trong xử lý các vấn đề tương tự, cũng như dự báo xu hướng phát triển tiếp theo của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay”, ông Hoàng Anh Minh nói.
Ngoài việc nhìn lại những chuyển động trong một năm qua, toạ đàm cũng hướng đến việc dự báo các xu hướng phát triển tiếp theo của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh môi trường thể chế và đầu tư kinh doanh đang thay đổi mạnh mẽ.
9:25
TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương (CIEM)chia sẻ dưới góc nhìn cá nhân rằng việc đánh giá hiệu quả triển khai các nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề “khó nói”, bởi nếu nhìn thẳng vào thực tế thì phải chấp nhận cả những tín hiệu tích cực lẫn những tồn tại đáng lo ngại. Theo ông, điều quan trọng nhất là phải đánh giá dựa trên kết quả thực chất, thay vì chỉ dừng ở cảm nhận hay các báo cáo mang tính hình thức.
Ông nhấn mạnh, khi Nghị quyết 68 được ban hành, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội đều đón nhận với kỳ vọng rất lớn, xem đây như tín hiệu mở ra một giai đoạn phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, sau thời gian triển khai, cần nhìn lại bằng các chỉ tiêu cụ thể.
“Mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp là mục tiêu rất rõ ràng và hoàn toàn có thể đo lường được”, ông nói.
Hiện nay Việt Nam mới có khoảng 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, nghĩa là từ nay đến năm 2030 phải tăng thêm khoảng 1 triệu doanh nghiệp nữa, tương đương mỗi năm cần tăng khoảng 200.000 doanh nghiệp. Nhưng theo ông Nguyễn Đình Cung, xu hướng thực tế lại đang đi ngược kỳ vọng.
Ông phân tích, tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường so với số doanh nghiệp rút lui đang giảm dần qua từng giai đoạn. Nếu trước đây tỷ lệ này ở mức rất cao thì giai đoạn 2016 - 2020 giảm xuống khoảng 2 doanh nghiệp vào thay cho 1 doanh nghiệp rời thị trường. Giai đoạn 2021 đến nay tiếp tục giảm mạnh và hiện gần như chỉ còn xấp xỉ 1 đổi 1.
“Nếu xu hướng này tiếp diễn thì gần như không thể đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030”, ông nhận định.
Theo ông, điều đáng tiếc là rất ít cơ quan nhìn thẳng vào thực tế này. Truyền thông thường chỉ nhấn mạnh số lượng doanh nghiệp thành lập mới với những cụm từ như “bùng nổ”, trong khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng tăng rất mạnh nhưng ít được nhắc đến.
“Tôi không thấy có cơ quan nào thực sự chịu trách nhiệm theo dõi mục tiêu này một cách nghiêm túc”, ông nói và cho rằng đây là chỉ tiêu rất dễ giám sát.
Ông Nguyễn Đình Cung cho rằng sau gần 10 năm nói về cải cách môi trường kinh doanh, nhiều mục tiêu vẫn chủ yếu tồn tại trên giấy. Điều đáng lo nhất là thiếu cơ chế giám sát độc lập và thiếu đánh giá thực chất về hiệu quả triển khai.
“Nếu không nhìn thẳng vào thực trạng này thì không thể có một khu vực kinh tế tư nhân đủ mạnh”, ông nhấn mạnh.
Theo ông, cải cách môi trường kinh doanh không thể chỉ dừng ở việc ban hành thêm văn bản. Một quy định thực sự tạo ra thay đổi còn giá trị hơn nhiều so với hàng chục văn bản thiếu hiệu quả. “Phải đánh giá bằng kết quả thực tế, chứ không phải đánh giá bằng số lượng văn bản được ban hành”, ông nói.
Ông cũng lưu ý rằng hiện nay nhiều nghị quyết vẫn mang tính chung chung, thiếu mục tiêu cụ thể, thiếu cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá độc lập. Trong khi đó, nếu giao chính các bộ tự đánh giá hiệu quả thực thi thì khó bảo đảm khách quan.
Liên quan đến cải cách điều kiện kinh doanh, ông cho rằng việc cắt giảm một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện mới chỉ là bước đầu. Nếu thực sự cải cách triệt để thì phải đồng thời bãi bỏ các điều kiện kinh doanh nằm trong nghị định, thông tư và các quy định chuyên ngành phía dưới. “Nếu gốc không thay đổi thì phần ngọn rồi cũng sẽ quay trở lại”, ông cảnh báo.
Theo ông, hệ thống ngành nghề kinh doanh có điều kiện hiện nay còn thiếu cơ sở khoa học, nhiều quy định được xây dựng mang tính chủ quan, có lĩnh vực quá rộng, có lĩnh vực lại quá hẹp, dẫn tới quản lý chồng chéo và thiếu hiệu quả.
Ông lấy ví dụ trong các ngành như hóa chất, thủy sản hay các loại chứng chỉ hành nghề kỹ sư, cách tiếp cận quản lý hiện rất khác nhau, thiếu nhất quán. “Chính vì không có một phương pháp phân loại khoa học nên chính sách rất khó tốt được”, ông nhận định.
Ông đề xuất cần rà soát lại toàn bộ danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, phân loại rõ lĩnh vực nào thực sự cần quản lý, lĩnh vực nào có thể chuyển sang hậu kiểm, từ đó tiếp tục cắt giảm thêm ít nhất một phần ba số điều kiện hiện hành.
Theo ông, tinh thần xuyên suốt phải là bảo đảm quyền tự do kinh doanh đúng như Hiến pháp quy định.
Một vấn đề khác được ông nhắc đến là nhiều nghị quyết hiện nay còn quá khó hiểu, thậm chí người trong giới chuyên môn đọc cũng có thể hiểu khác nhau. “Nếu người có chuyên môn còn thấy khó hiểu thì doanh nghiệp càng khó hành động”, ông nói.
Vì vậy, ông đề nghị các bộ ngành phải giải trình rõ từng chính sách nhằm mục tiêu gì, tác động ra sao, cắt giảm được bao nhiêu thủ tục, tiết kiệm bao nhiêu chi phí và thời gian cho doanh nghiệp.
Đồng thời, Chính phủ cần có một cơ chế giám sát tương đối độc lập để đánh giá định kỳ việc thực thi, báo cáo trực tiếp lên Thủ tướng nhằm kịp thời điều chỉnh chính sách nếu cần thiết.
Theo ông Nguyễn Đình Cung, niềm tin hiện là vấn đề lớn nhất của khu vực tư nhân. Khi doanh nghiệp chưa cảm nhận rõ lợi ích từ chính sách thì họ sẽ chưa sẵn sàng bỏ vốn mở rộng đầu tư hay gia nhập thị trường.
Ông cho rằng dù đã có một số tín hiệu tích cực, đặc biệt ở nhóm doanh nghiệp lớn, nhưng nhìn chung tốc độ triển khai vẫn chậm và chưa tạo ra chuyển động đủ mạnh.
Ông nhấn mạnh một nền kinh tế muốn phát triển bền vững thì phải dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong khi đó, nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vực này hiện chưa tạo ra được những dự án hay doanh nghiệp mang tính dẫn dắt. “Nếu xác định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực phát triển chính thì cả nhà nước lẫn tư nhân đều phải dồn nguồn lực thực sự cho lĩnh vực này”, ông nhấn mạnh.
Kết luận lại, ông Nguyễn Đình Cung cho rằng các nghị quyết của Trung ương và Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân có định hướng đúng và rất tích cực. Tuy nhiên, điều quyết định vẫn là chất lượng thực thi, khả năng giám sát độc lập và mức độ chuyển hóa chính sách thành niềm tin thực sự của cộng đồng doanh nghiệp.
10:40
Phát biểu tại sự kiện, TS Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, cho rằng sau một năm triển khai Nghị quyết 68, khu vực kinh tế tư nhân đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, song vẫn còn không ít điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ để tạo ra động lực phát triển bền vững hơn.
Ông Nghĩa cho biết, theo đánh giá sơ bộ, tốc độ tăng doanh nghiệp thành lập mới hiện cao hơn mức bình thường, vào khoảng 22%. Tuy nhiên, con số này vẫn chưa đủ để đạt mục tiêu 200.000 doanh nghiệp mới mỗi năm như kỳ vọng, đặc biệt trong bối cảnh số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn rất lớn.
Đáng lo ngại là xu hướng suy giảm của đầu tư tư nhân. TS Lê Xuân Nghĩa dẫn số liệu cho biết có giai đoạn tỷ trọng đầu tư tư nhân trong nền kinh tế lên tới khoảng 91%, nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 67%.
Theo ông, mặt bằng lãi suất cao là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng tới tâm lý đầu tư của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi phân tích sâu hơn, ông cho rằng áp lực lãi suất không chỉ đến từ lạm phát hay biến động quốc tế mà còn xuất phát từ một số “điểm nghẽn kỹ thuật” trong cơ chế vận hành của nền kinh tế.
Vấn đề đầu tiên, theo TS Lê Xuân Nghĩa, nằm ở tiến độ giải ngân đầu tư công còn chậm. Ông cho biết lượng vốn đầu tư công chưa giải ngân hiện lên tới khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, trong đó khoảng 700.000 tỷ đồng đang nằm tại các ngân hàng quốc doanh.
Theo ông, khi Chính phủ thúc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, giá đất, giá đền bù giải phóng mặt bằng và giá khu công nghiệp đều tăng lên, khiến nhiều doanh nghiệp có xu hướng chờ đợi thêm thay vì mở rộng đầu tư ngay lập tức.
Một “điểm nghẽn kỹ thuật” khác liên quan đến quy định của Ngân hàng Nhà nước về tiền gửi kho bạc. Cụ thể, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng quốc doanh không được tính là nguồn vốn huy động để xác định tỷ lệ an toàn vốn.
TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng với quy mô khoảng 700.000 tỷ đồng, đây là con số rất lớn. Khi không được tính vào nguồn vốn hợp lệ, các ngân hàng quốc doanh buộc phải tăng huy động trên thị trường để cân đối thanh khoản, qua đó tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất.
Ông cho biết quy định này xuất phát từ thông lệ quốc tế, theo đó tiền gửi kho bạc thường được gửi tại ngân hàng trung ương nhằm đảm bảo mức độ an toàn cao nhất. Tuy nhiên, khi việc thực hiện quy định được siết chặt hơn, áp lực huy động vốn trong hệ thống ngân hàng cũng gia tăng đáng kể.
Thứ ba là quy định về thuế và hóa đơn đối với hộ kinh doanh. Theo ông, việc yêu cầu hộ kinh doanh có doanh thu trên một ngưỡng nhất định phải kê khai đầy đủ hóa đơn, chứng từ là cần thiết để tăng minh bạch. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều hộ kinh doanh nhỏ đang gặp khó khăn khi phần lớn nguyên liệu đầu vào vẫn được mua từ chợ truyền thống hoặc các nguồn chưa có hệ thống hóa đơn đầy đủ.
Ông lấy ví dụ các quán ăn, quán phở nhỏ tại đô thị hoàn toàn có thể đạt doanh thu trên 1 tỷ đồng mỗi năm, nhưng việc chứng minh đầy đủ hóa đơn đầu vào cho rau, thực phẩm hay nguyên liệu mua tại chợ là điều không dễ thực hiện. Điều này khiến một số hộ kinh doanh lựa chọn thu hẹp quy mô, chia nhỏ hoạt động hoặc tách doanh thu cho nhiều thành viên trong gia đình để giảm áp lực kê khai.
Ông cũng cho rằng việc tăng cường thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp trong thời gian qua phần nào tạo ra tâm lý thận trọng trong khu vực tư nhân. Theo ông, doanh nghiệp hiện đặc biệt quan tâm tới ba nhóm vấn đề lớn gồm tài chính – kế toán, cạnh tranh không lành mạnh và các quy định liên quan tới môi trường, phòng cháy chữa cháy, an toàn lao động. “Nếu hoạt động kiểm tra thiếu tính hỗ trợ và thiên về xử lý vi phạm thì doanh nghiệp sẽ có xu hướng phòng thủ, giữ tiền mặt thay vì mở rộng đầu tư”, ông nhận định.
Từ đó, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ nằm ở vốn hay lãi suất, mà là cải cách thể chế và tư duy quản lý. Theo ông, Việt Nam nhiều năm qua chủ yếu tập trung cải cách kinh tế nhưng chưa cải cách đồng bộ cơ chế quản trị và phương thức điều hành. Trong khi đó, ở nhiều quốc gia phát triển, bộ máy quản lý đã chuyển mạnh sang tư duy phục vụ doanh nghiệp. “Doanh nghiệp cần được nhìn nhận là đối tượng phục vụ chứ không chỉ là đối tượng quản lý”, ông nhấn mạnh.
TS Lê Xuân Nghĩa dẫn lại việc Mỹ đã thúc đẩy mạnh tư duy “chính phủ phục vụ” từ giai đoạn 1993–1994 dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Ông cho rằng nếu không thay đổi cách tiếp cận, khoảng cách giữa chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp và thực tiễn triển khai sẽ còn khá lớn.
Ở góc độ thương mại quốc tế, TS Lê Xuân Nghĩa nhận định Việt Nam đã tham gia khoảng 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), nhưng mức độ hưởng lợi của doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế. Theo ông, xuất khẩu dệt may hiện đạt khoảng 45 tỷ USD, nông nghiệp khoảng 55 tỷ USD, song phần lớn giá trị xuất khẩu còn lại vẫn thuộc về khu vực doanh nghiệp FDI.
Ông cho rằng Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào mô hình gia công hay vào một vài thị trường xuất khẩu chủ lực, bởi chỉ cần các thị trường lớn thay đổi chính sách, nền kinh tế trong nước sẽ chịu tác động đáng kể. Do đó, hướng đi dài hạn cần là nâng cao năng lực công nghiệp nội địa, phát triển doanh nghiệp công nghệ, công nghiệp phụ trợ và tăng khả năng làm chủ chuỗi giá trị. Ông cũng nhấn mạnh vai trò của nguồn lực nội địa và nhân tài trong quá trình xây dựng nền kinh tế tự chủ hơn.
Liên quan đến chính sách hỗ trợ tín dụng, TS Lê Xuân Nghĩa dẫn ví dụ về gói tín dụng 145.000 tỷ đồng dành cho nhà ở xã hội nhưng tiến độ giải ngân còn khá chậm. Theo ông, nguyên nhân là do cơ chế triển khai chưa thực sự phù hợp với nguyên tắc thị trường. Trong khi ngân hàng phải huy động vốn với lãi suất 7%–8%/năm, việc cho vay ở mức thấp hơn đáng kể sẽ rất khó thực hiện nếu không có cơ chế hỗ trợ chia sẻ rủi ro từ ngân sách.
Ông cho rằng nhiều chính sách hỗ trợ hiện nay vẫn mang tính hành chính nhiều hơn cơ chế thị trường, khiến quá trình triển khai trên thực tế gặp không ít vướng mắc.
TS Lê Xuân Nghĩa cũng nhắc tới quỹ phát triển khoa học công nghệ quy mô khoảng 500 tỷ đồng nhưng giải ngân chậm do điều kiện và thủ tục còn khá chặt chẽ. Theo ông, Việt Nam hiện không thiếu doanh nhân và kỹ sư có năng lực, cũng không thiếu khát vọng phát triển công nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, điều còn thiếu là một hệ sinh thái hỗ trợ đủ mạnh về vốn, nhân lực, công nghệ và cơ chế chia sẻ rủi ro để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Ông lấy ví dụ trong lĩnh vực ô tô, công nghệ hay điện tử, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có khả năng tham gia sâu hơn nếu được tạo điều kiện phù hợp.
TS Lê Xuân Nghĩa dành nhiều thời gian nói về câu chuyện phát triển doanh nghiệp công nghệ và lấy ví dụ từ VinFast. Theo ông, sự xuất hiện của VinFast cho thấy doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có khả năng tham gia vào những ngành công nghệ cao và có hàm lượng kỹ thuật phức tạp như công nghiệp ô tô. Nếu nhìn ở góc độ khởi nghiệp công nghiệp, VinFast là một trường hợp đáng chú ý bởi rất ít quốc gia có thể hình thành doanh nghiệp ô tô nội địa trong thời gian ngắn như vậy.
Theo TS Lê Xuân Nghĩa, nhiều người từng cho rằng Việt Nam khó có thể xây dựng được một doanh nghiệp ô tô có năng lực cạnh tranh quốc tế trong vòng 7–10 năm. Tuy nhiên, VinFast đã cho thấy doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có thể đi nhanh hơn dự báo nếu có khát vọng lớn và nguồn lực đủ mạnh.
Ông cũng so sánh với kinh nghiệm của Hàn Quốc, cho rằng nhiều tập đoàn công nghiệp lớn của nước này trước đây đều nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ về vốn, thị trường và chính sách trong giai đoạn đầu phát triển. Còn các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam hiện nay phần lớn vẫn phải “tự bơi” trong khi hệ sinh thái hỗ trợ còn khá hạn chế.
“Có doanh nhân từng chia sẻ rằng muốn đầu tư công nghệ nhưng cuối cùng vẫn phải quay sang làm bất động sản để tạo dòng tiền nuôi hoạt động nghiên cứu và sản xuất. Việt Nam không thiếu doanh nhân giỏi, không thiếu kỹ sư giỏi, nhưng thiếu cơ chế hỗ trợ dài hạn”, ông nói.
TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng để xuất hiện thêm những doanh nghiệp như VinFast, điều quan trọng nhất không chỉ là vốn, mà là một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ gồm tín dụng dài hạn, chính sách công nghiệp, đào tạo nhân lực và môi trường pháp lý ổn định. Ông cũng nhấn mạnh rằng phát triển công nghiệp công nghệ cao là câu chuyện dài hạn, đòi hỏi sự kiên trì và chấp nhận rủi ro, thay vì chỉ nhìn vào hiệu quả ngắn hạn.
Theo ông, đây cũng là lý do Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy tăng trưởng dựa vào gia công sang tư duy phát triển năng lực công nghệ và doanh nghiệp nội địa, nếu muốn xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ và có sức cạnh tranh cao hơn trong dài hạn.
“Kinh tế tư nhân muốn trở thành động lực tăng trưởng thì điều quan trọng nhất vẫn là niềm tin”, TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh, đồng thời cho rằng cải cách thể chế, nâng cao tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường kinh doanh sẽ là yếu tố quyết định trong giai đoạn tới.
10:00
Phát biểu tại tọa đàm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, nhận định thành tựu lớn nhất có thể nhìn thấy sau một năm thực hiện Nghị quyết 68 là sự thay đổi mạnh mẽ về tư tưởng và định hướng chính sách.
“Hàng loạt nghị quyết, văn bản và quy định pháp luật đã được ban hành nhằm hỗ trợ triển khai nghị quyết. Ngay sau Nghị quyết 68 là nhiều nghị quyết khác của Quốc hội và Chính phủ được đưa ra để tháo gỡ các điểm nghẽn trong thực thi chính sách, xử lý các vướng mắc pháp lý cũng như điều chỉnh nhiều quy định theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Đây chính là tác động lớn nhất mà Nghị quyết 68 mang lại trong thời gian qua”, ông nói.
Theo TS Lê Duy Bình, trong giai đoạn đầu triển khai, Nghị quyết 68 đã tạo ra sự hứng khởi rất lớn trong khu vực kinh tế tư nhân. Tinh thần kỳ vọng và chờ đợi vào một bước đột phá chính sách xuất hiện khá rõ và đến nay phần nào vẫn còn hiện hữu. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ hơn vào thực tế, sự hứng khởi đó dường như tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp lớn.
Hàng loạt dự án quy mô lớn liên tiếp được khởi công trong thời gian qua, từ các công trình hàng trăm nghìn tỷ đồng cho tới những dự án có tổng vốn đầu tư lên tới gần một triệu tỷ đồng của các tập đoàn lớn như Vingroup hay Sun Group. Những động thái này cho thấy tác động tích cực của nghị quyết đối với khu vực doanh nghiệp quy mô lớn là rất rõ rệt.
Song, ở chiều ngược lại, tại khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh cá thể và khu vực kinh tế tư nhân phi chính thức hoặc bán chính thức, không khí tích cực ban đầu đang dần bị thay thế bởi tâm lý lo âu. Theo ông Bình, nhiều hộ kinh doanh hiện rất lo ngại về các vấn đề liên quan đến thuế, quy định kiểm tra hàng giả, hàng nhái cũng như các hoạt động thanh tra, kiểm tra trong quá trình kinh doanh.
“Những lo ngại này khiến khu vực kinh tế nhỏ lẻ không còn duy trì được sự hứng khởi như trước, mà bắt đầu xuất hiện tâm lý bất an về khả năng tồn tại trong bối cảnh hiện nay”, ông nhấn mạnh.
TS Lê Duy Bình cho biết, Nghị quyết 68 đã đặt ra tư tưởng xuyên suốt là phát triển nền kinh tế thị trường, trong đó khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò trung tâm và việc điều hành nền kinh tế cần dựa trên các công cụ thị trường. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi chính sách vừa qua, do hạn chế về thể chế, quy định pháp luật cũng như cách thức triển khai, đã xuất hiện những phản ứng ngược ngoài mong muốn.
Chẳng hạn như về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, TS Lê Duy Bình cho rằng cách tiếp cận quản lý hiện nay dường như vẫn mang nặng tư duy coi các chủ thể này là “đối tượng quản lý”, thay vì xem họ là đối tác hay khách hàng trong quá trình quản trị quốc gia. Chính tư duy đó dẫn tới nhiều quy định có thể tạo ra tác động ngược trong thực tế.
Một ví dụ được nêu là phản ứng của các hộ kinh doanh bằng cách chia nhỏ quy mô hoạt động để né ngưỡng doanh thu hoặc nghĩa vụ thuế. “Đây là phản ứng hoàn toàn dễ hiểu dưới tác động của chính sách. Không chỉ hộ kinh doanh, ngay cả các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cũng có thể lựa chọn duy trì doanh thu dưới ngưỡng quy định để được miễn hoặc giảm thuế. Điều này vô hình trung lại khuyến khích tình trạng “li ti hóa” doanh nghiệp thay vì thúc đẩy họ mở rộng quy mô. Đây là những tác động chính sách cần được tính toán đầy đủ hơn”, ông Bình trăn trở.
Một thực tế khác được ông đề cập là xu hướng quay trở lại giao dịch tiền mặt. Theo quan sát của ông, nhiều hộ kinh doanh và cơ sở kinh doanh hiện không muốn thực hiện các giao dịch lớn thông qua tài khoản ngân hàng mà chuyển sang giao dịch tiền mặt, thậm chí với những giao dịch trị giá hàng trăm triệu đồng.
Ông Bình cho rằng đây là hệ quả từ những lo ngại phát sinh trong quá trình thực thi chính sách hiện nay. Xu hướng này có nguy cơ thúc đẩy sự mở rộng trở lại của khu vực kinh tế phi chính thức, đi ngược mục tiêu minh bạch hóa và hiện đại hóa nền kinh tế.
Liên quan đến đầu tư tư nhân, ông Bình nhận định, dòng vốn hiện nay đang tăng mạnh nhưng chủ yếu tập trung ở nhóm doanh nghiệp lớn. “Các dự án quy mô hàng trăm nghìn tỷ đến hàng triệu tỷ đồng xuất hiện dồn dập cho thấy khu vực doanh nghiệp lớn đang mở rộng đầu tư rất mạnh. Tuy nhiên, tác động tích cực này dường như chưa lan tỏa tới nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Chúng ta cần nhìn nhận rõ vấn đề này để có các giải pháp phù hợp hơn trong thời gian tới”, ông nói.
Đề cập tới mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp, TS Lê Duy Bình cho rằng Việt Nam sẽ khó đạt được con số này nếu không thay đổi căn bản tư duy về mô hình doanh nghiệp.
Ông dẫn chứng, tại Singapore, khoảng 50% doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm là doanh nghiệp một chủ. Tại Pháp, tỷ lệ này lên tới 70%, còn ở nhiều nước phát triển, tỷ lệ này dao động 50% - 70%. Trong khi đó, theo số liệu của Bộ Tài chính và Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân, trong hơn 100.000 - 200.000 doanh nghiệp đăng ký mới mỗi năm tại Việt Nam, chỉ có khoảng 2.000 - 4.000 doanh nghiệp theo mô hình một chủ.
“Doanh nghiệp một chủ là mô hình rất cần thiết bởi đây là phương tiện kinh doanh đơn giản, chi phí thấp, phù hợp để cá nhân khởi nghiệp, thử nghiệm ý tưởng kinh doanh và mưu sinh. Khi thành công, các chủ thể này có thể phát triển lên mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn chưa có một nền tảng pháp lý phù hợp để hỗ trợ hiệu quả cho mô hình này và đây là điều mà chúng ta cần nghiên cứu”, ông đặt vấn đề.
10:20
Ông Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban IV, cho rằng khi nhìn vào câu chuyện phát triển kinh tế tư nhân hiện nay, cần đặt vấn đề ở cả cấp độ vĩ mô lẫn vi mô, bởi nhiều cải cách đang được triển khai nhưng hiệu quả thực chất vẫn chưa đạt kỳ vọng.
Theo ông, thời gian qua đã có rất nhiều cuộc họp, tranh luận liên quan đến cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, đây là quá trình rất phức tạp vì gần như bộ, ngành nào cũng cho rằng lĩnh vực của mình “đặc thù” và cần giữ lại điều kiện quản lý.
“ Nếu mỗi bộ, ngành đều tự cải cách theo cách riêng thì sẽ tạo ra những thay đổi rất đơn lẻ, không hình thành được một triết lý cải cách tổng thể ”, ông nói.
Ông cho biết Ban IV từng đề xuất cần đo lường cụ thể những thủ tục gây phiền hà và tốn kém nhất cho doanh nghiệp để tập trung xử lý. Theo đó, thay vì chỉ công bố đã cắt giảm bao nhiêu điều kiện hay bao nhiêu ngày xử lý hồ sơ, điều quan trọng hơn là phải đo được chi phí tuân thủ thực tế của doanh nghiệp có giảm hay không.
“Nếu trên báo chí nói giảm rất nhiều nhưng doanh nghiệp vẫn thấy chi phí không giảm chút nào thì điều đó còn làm mất niềm tin”, ông nhấn mạnh.
Theo ông Minh, hiện nay dư luận đang đặt quá nhiều kỳ vọng vào riêng Nghị quyết 68, trong khi cải cách thể chế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi là quá trình dài hạn, không thể giải quyết chỉ trong vài tháng.
Ông cho rằng vấn đề cốt lõi nằm ở tư duy thiết kế cải cách. Nếu chỉ nhìn từng vấn đề riêng lẻ mà thiếu góc nhìn tổng thể thì càng cải cách có khi càng không tạo được tác động thực chất, thậm chí còn khiến doanh nghiệp khó khăn hơn.
“Nghị quyết 68 không chỉ hướng tới tăng số lượng doanh nghiệp, mà còn phải nâng chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp”, ông nói.
Theo ông, sau khi Nghị quyết 68 được ban hành, Chính phủ và Quốc hội đã có nhiều nỗ lực thể chế hóa chính sách. Có thể kể tới Nghị quyết 198 của Quốc hội, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực, các chương trình thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh hay đào tạo đội ngũ doanh nhân.
Ông đặc biệt nhắc tới các chương trình phát triển doanh nghiệp tiên phong và đào tạo CEO như một phần trong nỗ lực xây dựng “mũi khoan” cho nền kinh tế, tạo ra lớp doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao hơn.
“Trong một năm qua, nỗ lực thể chế hóa là rất đáng ghi nhận”, ông đánh giá.
Tuy nhiên, theo ông Minh, vẫn còn nhiều chính sách quan trọng chậm được triển khai. Chẳng hạn các cơ chế hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi, hay gói hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp đầu tư xanh và đổi mới công nghệ đến nay vẫn chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng.
Trong khi đó, áp lực từ thương mại quốc tế, đặc biệt yêu cầu chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn phát triển bền vững, đang tạo sức ép rất lớn lên cộng đồng doanh nghiệp.
Ông cũng dẫn số liệu cho thấy bức tranh doanh nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều lo ngại. Trong ba tháng đầu năm, trung bình mỗi tháng có khoảng 32.000 doanh nghiệp đăng ký mới và quay trở lại hoạt động, nhưng đồng thời cũng có khoảng 30.400 doanh nghiệp rút khỏi thị trường.
“ Như vậy mỗi tháng nền kinh tế chỉ tăng ròng khoảng 1.600 doanh nghiệp. Với tốc độ này thì rất khó đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 ”, ông nhận định.
Theo ông, nếu không có thay đổi mang tính tổng thể về cách tiếp cận và phương thức xây dựng môi trường kinh doanh thì số lượng doanh nghiệp không những khó tăng mạnh mà còn có nguy cơ suy giảm.
Ông cũng lưu ý rằng hiệu ứng tích cực từ Nghị quyết 68 đang lan tỏa không đồng đều. Ban đầu cộng đồng doanh nghiệp khá hào hứng, nhưng theo thời gian tâm lý tích cực đã giảm dần.
“Doanh nghiệp lớn hiện vui nhiều hơn doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn khu vực hộ kinh doanh vẫn chưa cảm nhận rõ lợi ích ”, ông nói.
Theo khảo sát của Ban IV, khi hỏi 10 doanh nghiệp thì có tới khoảng 7 doanh nghiệp vẫn mang tâm lý thận trọng hoặc tiêu cực về triển vọng kinh doanh.
Ông cho rằng cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa khi tác động được tới lớp doanh nghiệp ở phía dưới, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ tạo thuận lợi cho một nhóm doanh nghiệp lớn.
“ Nếu cải cách không đi vào đời sống thực tế của doanh nghiệp, không giúp giảm chi phí tuân thủ thì sẽ không tạo được niềm tin ”, ông nhấn mạnh.
Theo ông Minh, Ban IV hiện cũng đang chuẩn bị một báo cáo với chủ đề “vực dậy niềm tin”, bởi niềm tin của doanh nghiệp đang suy giảm khá mạnh.
Một vấn đề khác được ông đặc biệt lưu ý là kỷ luật thực thi. Theo ông, Chính phủ và Thủ tướng đã phát đi nhiều tín hiệu cải cách rất tích cực, nhưng nếu các địa phương thực hiện không tốt thì doanh nghiệp vẫn tiếp tục gặp khó khăn.
Hiện Việt Nam có hơn 6.000 thủ tục hành chính liên quan đến người dân và doanh nghiệp. Theo định hướng cải cách mới, Trung ương sẽ chỉ giữ khoảng 30% thủ tục, phần còn lại phân cấp cho địa phương.
Tuy nhiên, ông cảnh báo rằng nếu phân cấp mà không đi kèm phân quyền rõ ràng, không xác định trách nhiệm cụ thể và không có kỷ luật thực thi nghiêm thì doanh nghiệp thậm chí có thể phải chịu chi phí tuân thủ cao hơn trước.
“Nếu cải cách chỉ dừng ở chuyển thủ tục từ trung ương xuống địa phương mà không thay đổi chất lượng thực thi thì khó khăn có thể còn lớn hơn”, ông nói.
Kết luận lại, ông Bùi Thanh Minh cho rằng Nghị quyết 68 là bước khởi đầu quan trọng, nhưng điều Việt Nam cần hơn là một tư duy cải cách tổng thể, thực chất và bền bỉ.
“Thần tốc thì phải thần tốc hơn, táo bạo thì phải táo bạo hơn. Nhưng quan trọng nhất vẫn là phải giữ được nguyên lý thị trường trong toàn bộ quá trình cải cách”, ông nhấn mạnh.
10:36
Chia sẻ tại sự kiện, TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia kinh tế, cho rằng để thị trường vận hành hiệu quả hơn, điều cần thiết không phải là ban hành thêm thật nhiều quy định hay gia tăng sự hiện diện của cơ quan quản lý, mà ngược lại là giảm bớt các can thiệp hành chính không cần thiết, tạo ra môi trường ổn định và dễ dự báo hơn cho doanh nghiệp.
Theo TS Nguyễn Quốc Việt, điều làm xói mòn lòng tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư không hẳn là chi phí hay khó khăn thị trường, mà là cảm giác bất định đến từ các can thiệp hành chính và những thay đổi chính sách khó lường. Khi môi trường pháp lý thiếu ổn định, doanh nghiệp sẽ không còn cảm giác an toàn để đầu tư dài hạn. Doanh nghiệp sẽ có xu hướng thu hẹp hoạt động chính thức, “giấu” tài sản hoặc chuyển dòng tiền sang các kênh phòng thủ để bảo toàn năng lực kinh doanh.
Ông liên hệ điều này với thực tế nhiều doanh nghiệp và người dân hiện nay có xu hướng chuyển dòng tiền khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh để nắm giữ vàng hoặc các tài sản phòng thủ khác. Theo ông, đó không đơn thuần là hành vi đầu tư, mà phản ánh tâm lý muốn giữ tài sản trong bối cảnh niềm tin đối với môi trường kinh doanh suy giảm.
“Người ta giấu doanh nghiệp đi, người ta giấu hoạt động kinh doanh chính thức đi để chuyển tiền sang vàng. Đấy chính là một biểu hiện cho thấy người ta đang cố giữ tài sản để còn có thể kinh doanh được”, ông nói.
Phân tích ở góc độ nghiên cứu thể chế, TS Nguyễn Quốc Việt đề cập tới một số bộ chỉ số quốc tế mà ông cho rằng rất đáng lưu ý đối với Việt Nam.
Trước hết là chỉ số “risk of expropriation” – tức rủi ro bị tước đoạt tài sản. Theo ông, nhiều người thường hiểu khái niệm này theo nghĩa hẹp là nguy cơ bị quốc hữu hóa hoặc bị nhà nước trực tiếp tịch thu tài sản. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu hiện đại, khái niệm này còn bao gồm nhiều tầng rủi ro khác. Trong đó, một yếu tố đặc biệt quan trọng là rủi ro đến từ các can thiệp hành chính và sắc lệnh quản lý.
“Khi sắc lệnh hành chính tạo ra sự bất ổn, sự không chắc chắn, tạo ra những thay đổi đột ngột thì đó cũng là một dạng rủi ro đối với người nắm giữ tài sản và người kinh doanh”, ông phân tích.
Theo TS Nguyễn Quốc Việt, đây cũng là điều trùng khớp với những vấn đề mà nhiều chuyên gia kinh tế đã đề cập thời gian gần đây: doanh nghiệp không quá sợ cạnh tranh, mà điều họ lo ngại hơn là môi trường chính sách thiếu ổn định.
Vị chuyên gia cho rằng cải cách thể chế không thể chỉ dừng ở việc cắt giảm thủ tục hành chính đơn thuần. Nếu muốn giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan hành chính, thì đồng thời phải nâng cao vai trò và hiệu quả của hệ thống tư pháp.
Theo ông, điều này không chỉ liên quan đến tòa án mà còn bao gồm vai trò của luật sư, cơ chế giải quyết tranh chấp và toàn bộ hệ thống hỗ trợ pháp lý. Khi doanh nghiệp tin rằng quyền tài sản và tranh chấp của mình được bảo vệ bằng một cơ chế minh bạch, ổn định, thì nhà nước mới có thể giảm dần việc điều hành bằng các mệnh lệnh hành chính trực tiếp.
Một bộ chỉ số khác được TS Nguyễn Quốc Việt đề cập tới là “legal formalism” – mức độ hình thức và nặng nề của hệ thống pháp lý. Đây là bộ chỉ số được xây dựng bởi các nhà luật học và kinh tế học nhằm đo lường mức độ phức tạp của hệ thống luật pháp, bao gồm số tầng nấc thủ tục, mức độ hình thức hóa và chi phí tuân thủ mà doanh nghiệp phải gánh chịu.
“Nếu một quốc gia có hệ thống pháp lý quá nặng nề, quá nhiều thủ tục, quá nhiều quy định hình thức thì chính điều đó lại trở thành lực cản cho sự phát triển”, ông nói.
TS Nguyễn Quốc Việt phân tích rằng khi một nền kinh tế bảo vệ tốt quyền tài sản và hạn chế được sự can thiệp tùy tiện, điều đó thường tạo tác động tích cực tới nhiều chỉ số vĩ mô như tăng trưởng GDP, mở rộng quy mô thị trường chứng khoán hay nâng cao hiệu quả phân bổ tín dụng.
Tuy nhiên, ông cho rằng có một nghịch lý đáng chú ý: nếu hệ thống pháp lý trở nên quá nặng về “legal formalism”, tức quá nhiều luật lệ và quy định hình thức, thì dù trong một số trường hợp vẫn có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế nhất định, nhưng lại có tương quan âm với hiệu quả của thị trường tài chính.
“Nặng về luật pháp thì lại làm giảm quy mô của thị trường chứng khoán, làm giảm hiệu quả của thị trường tín dụng”, ông nhận định.
Vị chuyên gia cho rằng nguyên nhân nằm ở chỗ khi hệ thống pháp lý trở nên quá cồng kềnh, doanh nghiệp sẽ mất nhiều chi phí tuân thủ, thị trường vốn kém linh hoạt hơn và dòng tiền khó được phân bổ hiệu quả.
Theo ông, luật pháp hay nghị quyết cũng giống như một loại hàng hóa công. Ở giai đoạn đầu, việc bổ sung quy định có thể tạo ra hiệu quả tích cực, giúp thị trường minh bạch và an toàn hơn. Tuy nhiên, khi vượt qua một ngưỡng nhất định, hiệu quả của các quy định sẽ giảm dần, thậm chí phát sinh thêm chi phí cho nền kinh tế. Nếu hệ thống quy định trở nên quá phức tạp, doanh nghiệp và người dân có thể sẽ ưu tiên tìm cách thích ứng hoặc né tránh thay vì tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ đó, TS Nguyễn Quốc Việt bày tỏ băn khoăn về áp lực ban hành nhanh các nghị quyết, chương trình hành động và văn bản hướng dẫn hiện nay. Theo ông, tốc độ cải cách là cần thiết, nhưng nếu thời gian chuẩn bị quá gấp thì việc đánh giá tác động chính sách đôi khi sẽ gặp nhiều khó khăn.
“Có những yêu cầu là trong vòng một tháng, thậm chí chưa đầy một tháng là phải ban hành văn bản. Khi đó, câu hỏi đặt ra là việc đánh giá tác động chính sách có được thực hiện đầy đủ hay không”, ông nêu vấn đề.
Theo ông, áp lực trách nhiệm hiện nay cũng khiến nhiều cán bộ có xu hướng lựa chọn phương án an toàn trong quá trình xây dựng chính sách. Một số sáng kiến hoặc đề xuất cải cách sau quá trình góp ý, thẩm định thường được điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn để hạn chế rủi ro trong thực thi.
“Nếu cơ chế thực thi khiến người ta luôn lo ngại về trách nhiệm thì vô hình trung sẽ làm giảm động lực đổi mới và sự sáng tạo”, ông nói.
TS Nguyễn Quốc Việt cũng nhắc lại Nghị quyết 19 trước đây về cải thiện môi trường kinh doanh như một ví dụ tích cực của cải cách thể chế. Theo ông, nghị quyết này từng tạo ra một không gian khá hiệu quả để doanh nghiệp, chuyên gia và các tổ chức quốc tế cùng tham gia phản biện và thúc đẩy cải cách.
Ông đánh giá cao việc thời điểm đó Việt Nam đã xây dựng được nhiều bộ chỉ số rà soát, cập nhật và so sánh môi trường kinh doanh theo chuẩn quốc tế, đặc biệt dựa trên hệ thống đánh giá của Ngân hàng Thế giới. Chính những công cụ đo lường cụ thể này đã góp phần giúp cải cách đi vào thực chất hơn.
Tuy nhiên, ông cũng cho rằng hiện nay các chương trình cải cách đang đứng trước thách thức về sự đồng bộ khi có nhiều nghị quyết và chương trình hành động được triển khai cùng lúc. Điều này khiến khối lượng văn bản hướng dẫn ngày càng lớn và đòi hỏi năng lực tổ chức thực hiện rất cao.
Ông lấy ví dụ với Nghị quyết 57 về khoa học công nghệ. Theo ông, khi xem các chương trình triển khai tại nhiều địa phương, nội dung giữa các nơi vẫn còn khá tương đồng và chưa tạo ra nhiều khác biệt rõ nét trong cách tiếp cận.
Cuối cùng, TS Nguyễn Quốc Việt cho rằng điều quan trọng nhất không nằm ở số lượng nghị quyết được ban hành, mà là mức độ cải thiện thực chất của môi trường kinh doanh và niềm tin của doanh nghiệp.
“Có nghị quyết là điều rất quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là các thay đổi đó có thực sự đi vào cuộc sống và tạo ra chuyển biến thực chất hay không”, ông nói.
Theo ông, điều Việt Nam cần hiện nay không phải là thêm thật nhiều văn bản, mà là một môi trường thể chế ổn định hơn, minh bạch hơn, ít bất định hơn và đủ an toàn để doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư dài hạn.
10:48
Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SB Law, cho rằng một trong những nội dung rất quan trọng của Nghị quyết 68 là yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật về thực thi hợp đồng và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, đặc biệt là rút ngắn thời gian xử lý các vụ việc.
Tuy nhiên, theo ông, sau một năm triển khai, những chuyển biến thực tế trong việc rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp vẫn chưa đạt kỳ vọng, nhất là tại hệ thống tòa án.

Ông cho biết hiện nay áp lực giải quyết án tại Hà Nội và TP. HCM là rất lớn, mỗi năm các tòa án phải xử lý hàng chục nghìn vụ việc. Ngay từ khâu nộp đơn khởi kiện và thụ lý vụ án, doanh nghiệp đã gặp không ít khó khăn. “Có những trường hợp chỉ riêng việc nộp đơn để đòi tiền cũng đã rất vất vả”, ông nói.
Không chỉ vậy, quá trình tố tụng hiện nay còn kéo dài qua nhiều cấp xét xử. Sau sơ thẩm là phúc thẩm, rồi tiếp tục đến giai đoạn thi hành án. Mỗi bước đều khiến doanh nghiệp mất thêm thời gian và chi phí.
Theo ông Nguyễn Thanh Hà, chính vì thủ tục dân sự và kinh tế còn kéo dài nên trên thực tế nhiều doanh nghiệp có xu hướng tìm đến cơ quan điều tra để xử lý nhanh hơn, dù chủ trương hiện nay là không hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế. “Có doanh nghiệp nói thẳng rằng muốn thu hồi nợ nhanh thì phải nhờ công an, chứ đi theo con đường dân sự thì rất mất thời gian”, ông chia sẻ.
Ông cũng đánh giá trọng tài thương mại là cơ chế giải quyết tranh chấp khá hiệu quả, nhưng chi phí còn cao. Khác với tòa án chỉ nộp án phí ban đầu ở mức thấp, trọng tài yêu cầu doanh nghiệp phải nộp gần như toàn bộ phí ngay từ đầu, điều này trở thành gánh nặng đối với nhiều doanh nghiệp đang khó khăn về tài chính.
Theo ông Hà, một hướng đi tích cực hiện nay là ngành tòa án đang thúc đẩy mô hình “tòa án điện tử” trong quá trình triển khai Nghị quyết 68. Theo đó, doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ trực tuyến, gửi tài liệu qua môi trường số và thậm chí tham gia xét xử online. “Nếu triển khai hiệu quả, mô hình tòa án điện tử sẽ giúp giảm đáng kể thời gian và chi phí cho doanh nghiệp”, ông nhận định. Tuy nhiên, theo lộ trình hiện nay, việc thí điểm đầy đủ mô hình này có thể phải tới năm 2027 mới triển khai rộng rãi.
Một vấn đề khác được ông Nguyễn Thanh Hà nhấn mạnh là tinh thần của Nghị quyết 68 trong việc ưu tiên các biện pháp kinh tế, hành chính và dân sự trước khi áp dụng xử lý hình sự đối với các sai phạm kinh tế. Theo ông, đây là định hướng rất tiến bộ, tạo cơ hội để doanh nghiệp chủ động khắc phục hậu quả, giảm thiểu rủi ro hình sự hóa hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là các quy định này mới dừng ở tính định hướng, chưa có hướng dẫn cụ thể để áp dụng trên thực tế.
Ông dẫn ví dụ trong các vụ án liên quan đến trốn thuế hay lừa đảo trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thường được khuyến khích khắc phục hậu quả để được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm. Nhưng hiện chưa có quy định rõ ràng về mức độ khắc phục như thế nào thì được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được giảm nhẹ ở mức nào. “Khắc phục toàn bộ thiệt hại thì có được miễn trách nhiệm hình sự không, khắc phục một nửa thì giảm bao nhiêu, hiện vẫn chưa có hướng dẫn định lượng cụ thể”, ông nói.
Theo ông, đây là khoảng trống khiến các cơ quan tố tụng cũng e ngại khi áp dụng tinh thần của Nghị quyết 68, bởi nếu xử lý không chặt chẽ có thể phát sinh rủi ro bị xem là bỏ lọt tội phạm.
Ông cho biết trong quá trình bào chữa cho doanh nhân, các luật sư hiện đều viện dẫn tinh thần của Nghị quyết 68 nhằm bảo vệ quyền kinh doanh và tạo điều kiện cho doanh nghiệp khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, do thiếu án lệ và hướng dẫn chi tiết nên việc áp dụng trên thực tế vẫn còn khá khó khăn.
Vì vậy, ông kỳ vọng thời gian tới Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định liên quan sẽ tiếp tục được sửa đổi theo hướng cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết 68, đồng thời xây dựng thêm án lệ để tạo cơ sở áp dụng thống nhất.
Ngoài vấn đề tố tụng, ông Nguyễn Thanh Hà cũng đề cập tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ, một trong những nội dung được nhấn mạnh trong Nghị quyết 68 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
Theo ông, việc sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ thời gian qua đã có những cải thiện nhất định, như rút ngắn thời gian thẩm định đơn từ khoảng một năm xuống còn 5 đến 6 tháng và thúc đẩy xử lý thủ tục trực tuyến.
Tuy nhiên, trên thực tế hệ thống công nghệ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nên thời gian xử lý hồ sơ chưa được rút ngắn đáng kể như kỳ vọng. Bên cạnh đó, tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ trên môi trường số vẫn diễn ra phổ biến.
Ông lấy ví dụ tình trạng phát sóng lậu các giải bóng đá trên mạng vẫn diễn ra công khai, khiến nhiều doanh nghiệp sở hữu bản quyền liên tục phản ánh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Việt Nam bị đưa vào danh sách theo dõi về sở hữu trí tuệ của một số đối tác quốc tế.
Theo ông Hà, phản ứng chính sách hiện nay đôi khi vẫn mang tính xử lý tình huống, chạy theo sức ép bên ngoài, thay vì hình thành một chiến lược dài hạn và chủ động về bảo vệ sở hữu trí tuệ. “Khu vực tư pháp vẫn còn rất nhiều việc phải làm nếu muốn thực sự bảo vệ doanh nghiệp và doanh nhân”, ông nhấn mạnh.
Ông cho rằng dù tinh thần cải cách trong Nghị quyết 68 là rất tích cực, nhưng tốc độ cụ thể hóa chính sách và chất lượng thực thi hiện vẫn còn chậm so với kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp.
10:55
Theo nhà báo Phan Thế Hải, câu chuyện về Nghị quyết 68 mang ý nghĩa của một dấu mốc lịch sử khá đặc biệt nếu đặt trong bối cảnh phát triển của Việt Nam nhiều thập niên qua.
Ông dẫn chứng, giai đoạn sau năm 1986, khi nền kinh tế Việt Nam còn vô cùng khó khăn, lạm phát cao, đời sống người dân thiếu thốn và khu vực kinh tế tư nhân vẫn là chủ đề nhạy cảm. Thời điểm đó, việc đề cập đến kinh tế tư nhân hay vai trò của doanh nghiệp tư nhân là điều không hề dễ dàng. Chính vì vậy, khi Tổng bí thư Tô Lâm lần đầu tiên công khai nhắc tới “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”, nhà báo Phan Thế Hải cho rằng đây là một dấu hiệu rất khác biệt.
“Một nhận định như vậy được đưa ra từ người đứng đầu Đảng thì điều đó mang ý nghĩa rất sâu sắc bởi nó cho thấy tư duy phát triển đã thay đổi đáng kể. Sau đó, Nghị quyết 68 tiếp tục ra đời, càng củng cố thêm niềm tin rằng đất nước đang bước vào một giai đoạn thay đổi thực chất hơn trong cách nhìn nhận về kinh tế tư nhân”, ông nhấn mạnh.
Theo ông Hải, trước đây việc khuyến khích kinh tế tư nhân nhiều khi vẫn diễn ra theo cách dè dặt, “ngầm hiểu”, còn hiện nay vai trò của khu vực này đã được khẳng định công khai là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, ông cũng cho rằng từ nghị quyết đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách đáng kể. Ông dẫn lại việc Thủ tướng Lê Minh Hưng khi mới nhận nhiệm vụ cũng tiếp tục nhấn mạnh câu chuyện cải cách thể chế, xóa bỏ “giấy phép con” và coi hệ thống thủ tục hành chính phức tạp mới chính là lực cản lớn của nền kinh tế, chứ không chỉ là vấn đề vốn hay hạ tầng. “Điều đó cho thấy sau gần một năm Nghị quyết 68 được ban hành, nhiều rào cản thể chế vẫn tồn tại và chưa được tháo gỡ triệt để”, ông nói.
Quan sát quá trình phát triển kinh tế trong nhiều năm, nhà báo Phan Thế Hải cho rằng bài học lớn của các quốc gia thành công đều nằm ở năng lực quản lý nhà nước và mức độ can thiệp hợp lý của nhà nước vào nền kinh tế. Ông dẫn ví dụ về các nền kinh tế phát triển như Singapore, nơi nhà nước không can thiệp quá sâu nhưng hệ thống quản lý vẫn vận hành hiệu quả, minh bạch và nghiêm khắc với sai phạm.
“Xu hướng hiện nay của thế giới là xây dựng một ‘nhà nước nhỏ trong một nền kinh tế lớn’, tức giảm bớt sự can thiệp hành chính trực tiếp nhưng vẫn duy trì kỷ cương và hiệu quả quản trị”, ông cho hay.
Từ góc độ đó, nhà báo Phan Thế Hải cho rằng Nghị quyết 68 đã mở ra một định hướng chính sách rất lớn, nhưng để chuyển hóa thành kết quả thực tế sẽ cần một quá trình dài, bắt đầu từ thay đổi nhận thức cho tới tạo ra chuyển động trong bộ máy thực thi. Theo ông, việc tổ chức các diễn đàn, hội thảo như hiện nay cũng là một bước quan trọng để lan tỏa nhận thức trong xã hội và trong đội ngũ cán bộ quản lý.
Bên cạnh đó, ông cũng đánh giá một trong những thay đổi rõ nét nhất thời gian qua là sự xuất hiện ngày càng nhiều các dự án tư nhân quy mô rất lớn. Dẫn chứng hàng loạt dự án hàng tỷ USD được giao cho các tập đoàn tư nhân như Vingroup, THACO hay Hòa Phát triển khai, ông Hải nhấn mạnh đây là dấu hiệu cho thấy khu vực kinh tế tư nhân đã bắt đầu được trao vai trò lớn hơn trong phát triển kinh tế quốc gia.
Tuy nhiên, nhà báo Phan Thế Hải cũng khẳng định “hồn cốt” của nền kinh tế không chỉ nằm ở các doanh nghiệp lớn mà còn ở toàn bộ hệ sinh thái gồm hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và doanh nghiệp vừa.
“Khu vực này hiện vẫn gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh. Dù chuyển đổi số đã giúp giảm bớt một phần chi phí và thời gian xử lý hồ sơ, nhưng trên thực tế, nhiều thủ tục trực tiếp vẫn rất phức tạp và kéo dài. Một doanh nghiệp xin giấy phép xây dựng cho một tòa nhà nhưng mất tới 5 năm để hoàn tất thủ tục. Trong thời gian đó, doanh nghiệp vẫn phải duy trì văn phòng thuê bên ngoài với chi phí hàng tỷ đồng mỗi năm để chờ đợi các loại giấy phép. Đây là minh chứng cho việc hệ thống thủ tục hành chính hiện nay vẫn còn rất nặng nề, gây tốn kém lớn cho doanh nghiệp”, ông Hải trăn trở.
Dù vậy, nhà báo Phan Thế Hải vẫn khẳng định niềm tin vào tiến trình cải cách hiện nay. Từ một giai đoạn nền kinh tế còn khép kín, đến nay Việt Nam đã từng bước thay đổi tư duy, công khai thừa nhận những điểm nghẽn thể chế và huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc cải cách. Dù Việt Nam còn chậm hơn một số quốc gia, một số quy định vẫn còn ‘chậm chạp’ đi vào thực tế nhưng cũng đã có những bước tiến đáng ghi nhận.
“Điều quan trọng là cần tiếp tục kiên trì với tiến trình cải cách này để nền kinh tế phát triển tương xứng với tiềm năng của đất nước”, nhà báo Phan Thế Hải nhấn mạnh.
11:05
Tiếp tục trao đổi về Nghị quyết 68 và cải cách thể chế, TS Nguyễn Đình Cung cho rằng một chính sách cải cách, nếu được triển khai đúng cách, hoàn toàn có thể trở thành công cụ thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ tư duy quản lý và cách thực thi trên thực tế hiện nay vẫn chưa theo kịp tinh thần cải cách được đặt ra.
Theo ông Cung, phát triển kinh tế tư nhân của Việt Nam không thể tách rời dòng vốn đầu tư nước ngoài. Trong nhiều năm qua, Việt Nam liên tục theo đuổi mục tiêu thu hút FDI với các chỉ tiêu quen thuộc như số dự án, tổng vốn đăng ký hay số lượng hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết. Tuy nhiên, điều còn thiếu là yêu cầu về chất lượng dòng vốn đầu tư.
TS Nguyễn Đình Cung cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang có cơ hội để yêu cầu khu vực đầu tư nước ngoài phải chuyển giao công nghệ, thúc đẩy nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Ông dẫn ví dụ việc Mỹ hay châu Âu đặt ra yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa đối với hàng hóa xuất khẩu vào các thị trường này. Theo ông, đây đáng lẽ phải là cơ hội để Việt Nam nâng tiêu chuẩn thu hút FDI.
“Tuy nhiên, trên thực tế, từ trung ương đến địa phương vẫn tồn tại tâm lý chạy theo số lượng vốn đầu tư, bởi không ai muốn chứng kiến chỉ tiêu tăng trưởng hay thu hút đầu tư bị suy giảm trong nhiệm kỳ của mình. Chính vì vậy, rất ít địa phương dám mạnh dạn đặt ra các tiêu chí khắt khe hơn đối với dòng vốn FDI chất lượng cao”, ông trăn trở.
Liên quan tới khu vực hộ kinh doanh, TS Nguyễn Đình Cung cho rằng về bản chất, đây cũng là một dạng doanh nghiệp tư nhân. “Hình thức pháp lý không phải là yếu tố quan trọng nhất, mà cốt lõi là xây dựng được một hệ thống pháp luật minh bạch, đáng tin cậy để người dân tin rằng nếu tuân thủ pháp luật thì họ sẽ được bảo vệ quyền lợi. Ngược lại, nếu người tuân thủ lại chịu thiệt thòi hơn người lách luật, như chúng ta hay nói ‘trung thực thật thà thì thua thiệt’ thì niềm tin thị trường sẽ bị suy giảm”, ông nói.
Theo TS Nguyễn Đình Cung, vấn đề lớn hiện nay là tư duy quản lý vẫn nặng về kiểm tra, kiểm soát thay vì tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Ông cho rằng trong một năm qua, tinh thần cải cách của Nghị quyết 68 chưa thực sự được “thẩm thấu” vào bộ máy thực thi chính sách. Điều này dẫn tới thực tế là càng siết chặt kiểm soát, người dân và doanh nghiệp càng tìm cách đối phó để tự bảo vệ mình.
Ông dẫn ví dụ về một số quy định kiểm tra nguồn gốc, chứng nhận hàng hóa hay tiêu chuẩn sản phẩm mà ngay cả người thực thi đôi khi cũng không xác định rõ căn cứ pháp lý hoặc quy trình áp dụng. Ví dụ về vụ việc liên quan đến vài chục cân xác ve sầu gây xôn xao dư luận thời gian qua, theo ông Cung, điều đáng nói không nằm ở giá trị hàng hóa, mà ở chỗ ngay cả người kinh doanh cũng không biết phải xin loại giấy phép nào, cơ quan nào cấp hay quy trình thủ tục cụ thể ra sao, nhưng vẫn bị yêu cầu phải đáp ứng các điều kiện nhất định. Hay như trường hợp “cà phê Xin Chào” trước đây cũng là một ví dụ điển hình về tác động tiêu cực của cách quản lý cứng nhắc đối với môi trường kinh doanh.
“Những tình huống như vậy tạo ra tâm lý bất an rất lớn cho người kinh doanh, bởi họ cảm thấy môi trường pháp lý thiếu rõ ràng và khó dự đoán. Nếu bản thân mình là người kinh doanh trong bối cảnh đó, tôi cũng sẽ lựa chọn cách ‘không làm gì cả’ để tránh rủi ro pháp lý”, ông nói.
TS Nguyễn Đình Cung cho rằng sự cải thiện mạnh mẽ của môi trường đầu tư giai đoạn 2016 - 2020 đã góp phần quan trọng giúp tăng trưởng kinh tế phục hồi mạnh sau đại dịch COVID-19, thế nhưng hiện nay, nhiều biểu hiện trong thực tiễn lại cho thấy xu hướng quay trở lại với tư duy kiểm soát nặng nề hơn.
“Dù lãnh đạo cấp cao đã đưa ra định hướng cải cách rất rõ, nhưng tầng lớp thực thi chính sách vẫn chưa thực sự thay đổi tư duy và năng lực thể chế còn hạn chế, khiến tinh thần cải cách chưa được chuyển hóa thành hành động thực chất”, ông Cung nói.
Đề cập tới việc luật hóa hộ kinh doanh, TS Nguyễn Đình Cung cho biết bản thân ông và nhiều chuyên gia hiểu rõ rằng việc chính thức hóa khu vực này là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, nếu triển khai trong bối cảnh hiện nay, khi bộ máy vẫn nặng tư duy kiểm soát và hệ thống thủ tục còn phức tạp, thì việc áp thêm các quy định pháp lý lên hàng triệu hộ kinh doanh có thể khiến họ không đủ khả năng tuân thủ và làm gia tăng chi phí hoạt động.
“Điều cần thiết hiện nay không phải là tăng cường thu thuế bằng mọi giá, bởi khoản thu từ khu vực này thực tế không quá lớn so với tổng thu ngân sách. Quan trọng hơn cả là phải xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, đơn giản, công bằng; giúp nhà nước có thể theo dõi được dòng tiền, kiểm soát được tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa nhưng trên nguyên tắc thật đơn giản, tạo thuận lợi tối đa cho người kinh doanh và người tuân thủ sẽ là người có lợi. Các quy định về kiểm tra, an toàn thực phẩm hay tiêu chuẩn kỹ thuật cần được thiết kế đơn giản, dễ tuân thủ và phải tạo động lực để người dân tự nguyện thực hiện thay vì tìm cách né tránh”, ông nhấn mạnh.
11:15
Nhà báo Hoàng Tư Giang cho rằng cốt lõi của Nghị quyết 68 vẫn là bài toán quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Theo ông, trong điều kiện hòa bình, nền kinh tế phải vận hành theo đúng các quy luật thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh.
Dù nhiều cải cách đã được triển khai trong thời gian qua, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn còn yếu và chưa tạo được nền tảng đủ mạnh cho nền kinh tế. Ông nhận định kinh tế Việt Nam hiện mang tính “nhị phân”, với một bên là khu vực FDI và một bên là khu vực doanh nghiệp trong nước. Trong đó, khu vực FDI đang giữ vai trò áp đảo.
“Xuất khẩu của khu vực FDI hiện chiếm tới khoảng 80%, đóng góp hơn 28% GDP. Trong khi đó khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn rất nhỏ”, ông nói.
Theo số liệu ông dẫn lại, khu vực doanh nghiệp tư nhân đăng ký chính thức hiện chỉ đóng góp hơn 10% GDP. Ngược lại, khu vực hộ kinh doanh cá thể với khoảng 5,2 triệu hộ lại chiếm tới khoảng 33% GDP. Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn còn rất manh mún, quy mô nhỏ và phụ thuộc đáng kể vào khu vực đầu tư nước ngoài.
“Nếu tách khu vực FDI ra thì sẽ thấy doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu. Thu nhập của người lao động nhìn chung vẫn thấp, phổ biến chỉ khoảng 7 - 8 triệu đồng mỗi tháng”, ông nhận định.
Tuy vậy, ông Hoàng Tư Giang đánh giá cao tinh thần cải cách được thể hiện trong các nghị quyết gần đây của trung ương. Theo ông, hiếm khi có lãnh đạo cấp cao nhấn mạnh mạnh mẽ như hiện nay rằng “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” và yêu cầu phải tạo ra đột phá về thể chế.
“Nghị quyết 66 hay Nghị quyết 68 đều cho thấy tinh thần cải cách rất mạnh mẽ. Nhưng vấn đề lớn nhất hiện nay vẫn là thực thi và năng lực của bộ máy”, ông nói.
Ông dẫn ví dụ từ câu chuyện hộ kinh doanh thời gian qua. Theo ông, việc triển khai chủ trương bỏ thuế khoán từ năm 2026 đã khiến nhiều hộ kinh doanh lo ngại, thậm chí chọn đóng cửa vì áp lực quản lý và chi phí tuân thủ gia tăng.
“Khi chính sách triển khai quá nhanh, thiếu đối thoại và thiếu hướng dẫn rõ ràng thì người dân dễ phản ứng theo hướng phòng thủ, thậm chí dừng kinh doanh”, ông nhận xét.
Theo ông, những điều chỉnh gần đây về ngưỡng doanh thu chịu thuế mới chỉ xử lý phần ngọn, chưa chạm tới gốc rễ vấn đề. Trong khi đó, xu hướng đầu tư tư nhân đang suy giảm rõ rệt.
Ông cho biết trước Covid, tăng trưởng đầu tư tư nhân từng đạt khoảng 15% mỗi năm, nhưng hiện chỉ còn quanh mức 7% - 9%. Trong khi đó, phần lớn các dự án quy mô lớn hiện nay lại tập trung vào một số tập đoàn tư nhân lớn hoạt động trong lĩnh vực hạ tầng và bất động sản.
“Khoảng 98% doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh gần như đứng ngoài làn sóng phát triển đó”, ông nói và cho rằng phần lớn khu vực kinh tế tư nhân vẫn chưa thực sự bước vào “kỷ nguyên vươn mình”.
Ông cũng cảnh báo áp lực lãi suất sẽ là thách thức lớn với doanh nghiệp tư nhân trong thời gian tới. Theo ông, tỷ lệ cho vay trên huy động của hệ thống ngân hàng hiện đã vượt ngưỡng an toàn, trong khi hàng loạt dự án lớn vẫn cần nguồn vốn rất lớn.
“Nhiều doanh nghiệp tư nhân sẽ phải đối mặt với mặt bằng lãi suất cao trong thời gian dài”, ông nhận định.
Ngoài ra, bối cảnh quốc tế hiện cũng không thuận lợi khi lãi suất tại Mỹ khó giảm nhanh do áp lực lạm phát còn lớn. Điều này khiến dư địa điều hành lãi suất trong nước bị thu hẹp đáng kể.
Ở góc độ quản lý, ông Hoàng Tư Giang cho rằng hiện vẫn chưa có một cơ quan thực sự chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát và định lượng hiệu quả triển khai Nghị quyết 68.
Trước đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng CIEM từng đóng vai trò khá rõ trong thúc đẩy cải cách môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, sau khi sáp nhập chức năng về Bộ Tài chính, theo ông, khoảng trống trong giám sát cải cách đang xuất hiện rõ hơn.
“Bộ Tài chính vốn đã gánh rất nhiều nhiệm vụ như thuế và hải quan, trong khi đây lại là những lĩnh vực bản thân cần cải cách mạnh nhất”, ông nói.
Theo ông, nếu không xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, không có cơ chế giám sát và đánh giá định lượng cụ thể thì cải cách sẽ rất khó tạo ra kết quả thực chất.
11:25
Chia sẻ tại sự kiện, PGS.TS Nghiêm Thị Thà, Tổng thư ký Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, cho biết bà vẫn nhớ rất rõ không khí của buổi toạ đàm diễn ra ngày 13/5/2025, thời điểm mà Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân vừa được ban hành.
Theo vị chuyên gia, khi đó xuất hiện đồng thời ba trạng thái “rất phấn khởi”. Thứ nhất là sự bùng nổ niềm tin trên mạng xã hội và trong dư luận về triển vọng phát triển của kinh tế tư nhân sau khi Nghị quyết 68 ra đời. Thứ hai là kỳ vọng khu vực kinh tế tư nhân sẽ thực sự được phát triển đúng tinh thần nghị quyết. Và thứ ba là hy vọng các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các hộ kinh doanh, sẽ có cơ hội “vươn mình”.
PSG.TS Nghiêm Thị Thà đánh giá, chưa bao giờ Ban Chấp hành Trung ương ban hành một nghị quyết mà ngay sau đó hệ thống chính sách lại được triển khai với tốc độ nhanh như vậy. Chính phủ đã nhanh chóng ban hành chương trình hành động nhằm cụ thể hóa nghị quyết, trong khi Quốc hội đồng thời đưa ra các cơ chế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho khu vực kinh tế tư nhân.
“Với bộ ba chính sách đó, chúng ta có cảm giác như một bộ khung thể chế mới đang được dựng lên rất nhanh”, bà nói.
Vị chuyên gia cho rằng điều này phản ánh rõ sự thay đổi trong tư duy nhìn nhận vai trò của kinh tế tư nhân. Sau gần 40 năm Đổi mới, quá trình thay đổi nhận thức đã diễn ra mạnh mẽ, nhưng với dấu ấn từ người đứng đầu hệ thống chính trị, Nghị quyết 68 tạo ra tác động xã hội rất lớn, đặc biệt trong cộng đồng doanh nghiệp.
Bà Thà nhắc lại rằng tại thời điểm đó, dư luận nói nhiều tới mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 và 3 triệu doanh nghiệp vào năm 2045. Theo tính toán, Việt Nam có khoảng hơn 5,2 triệu hộ kinh doanh cá thể và nhiều người kỳ vọng khi Nghị quyết 68 được ban hành, lực lượng này sẽ chuyển đổi thành doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
“Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là hệ thống thể chế có đủ đồng bộ để khơi thông quá trình chuyển đổi đó hay không”, bà nói.
Theo bà, khi nhìn lại sau một năm thực hiện Nghị quyết 68, có thể thấy rõ một thực tế là sự đồng bộ về thể chế vẫn chưa đạt được như kỳ vọng.
Dù vậy, PGS.TS Nghiêm Thị Thà cho biết bà vẫn giữ niềm tin khá lớn vào quyết tâm thay đổi của hệ thống chính trị. Theo bà, Việt Nam hiện đã nhận diện tương đối rõ ba điểm nghẽn lớn của nền kinh tế.
Điểm nghẽn thứ nhất là môi trường kinh doanh và cải cách thể chế. Bà cho rằng các vấn đề về pháp lý, thủ tục hành chính và sự thiếu đồng bộ trong thực thi đã được nhận diện rõ hơn, đồng thời được phản ánh trong các chương trình hành động của Chính phủ, bộ ngành và địa phương.
Điểm nghẽn thứ hai là phát triển khoa học – công nghệ. Theo bà, thời gian qua Việt Nam đã liên tục ban hành các nghị quyết, chính sách và văn bản nhằm cụ thể hóa chiến lược phát triển khoa học công nghệ, coi đây là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế
Điểm nghẽn thứ ba là đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài. Bà đánh giá đây cũng là lĩnh vực mà quyết tâm chính trị đã được thể hiện tương đối rõ, từ định hướng lớn cho tới các chương trình hành động cụ thể.
“Chúng ta đã nhận diện được ba điểm nghẽn lớn gồm cải cách thể chế, phát triển khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực. Đó là lý do thời điểm năm ngoái chúng ta rất kỳ vọng”, bà nói.
Tuy nhiên, theo PGS.TS. Nghiêm Thị Thà, khoảng cách từ thay đổi nhận thức đến thay đổi thực tế vẫn còn khá xa. Bà cho rằng hiện nay tồn tại hai hạn chế lớn.
Thứ nhất là năng lực thực thi chưa đồng bộ. Sau một năm tinh gọn bộ máy và sắp xếp lại hệ thống, đội ngũ cán bộ, công chức đang chịu áp lực rất lớn. “Có những người trẻ được đào tạo ở nước ngoài trở về nhưng cũng tâm sự rằng áp lực công việc hiện nay quá nặng, đến mức muốn nghỉ việc”, bà Thà chia sẻ.
Theo vị chuyên gia, quyết tâm cải cách là rất rõ ràng, nhưng năng lực triển khai đồng bộ từ trên xuống dưới vẫn là bài toán khó. Nhiều trường hợp luật và nghị quyết ở cấp cao được thiết kế rất thông thoáng, nhưng khi xuống tới nghị định, thông tư hay quá trình thực thi thì lại xuất hiện thêm điều kiện kinh doanh hoặc “giấy phép con”.
“Tôi từng tham gia vào quá trình cắt giảm điều kiện kinh doanh nên hiểu rằng việc này không dễ, bởi nó liên quan trực tiếp tới quyền lợi của các bộ, ngành”, bà nói. Dù vậy, bà cho rằng khi nhận thức đã thay đổi và hệ thống chính trị đã thể hiện quyết tâm, thì thực tế sớm muộn cũng sẽ phải chuyển động theo, dù không thể diễn ra trong “một sớm một chiều”.
Ở góc độ doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh, PGS.TS. Nghiêm Thị Thà cho rằng quá trình hiện nay cũng là một cuộc “thanh lọc”. Theo đó, các hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ buộc phải đối diện với yêu cầu minh bạch hơn về quản trị, tài chính và nghĩa vụ thuế.
Bà cũng nhấn mạnh tới sự thay đổi trong nhận thức xã hội. Theo bà, người dân ngày càng tin vào vai trò của khu vực tư nhân, đồng thời cũng kỳ vọng nhà nước phải thay đổi mạnh mẽ hơn trong quản trị và điều hành.
PGS. TS Nghiêm Thị Thà vẫn bày tỏ sự lạc quan khi cho rằng tiếng nói phản biện xã hội đang dần hình thành rõ nét hơn thông qua báo chí, các hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp.
Bà dẫn ví dụ các hiệp hội hiện nay đã chủ động phản ánh tâm tư, nguyện vọng của doanh nghiệp tới cơ quan quản lý thông qua các văn bản góp ý chính sách. Việc tiếp thu đến đâu là câu chuyện của cơ quan chức năng, nhưng theo bà, quá trình phản biện xã hội ấy đang ngày càng rõ nét hơn trong đời sống kinh tế.
“Tôi tin rằng cùng với sự phát triển của xã hội và vai trò phản biện ngày càng lớn hơn của các hiệp hội, báo chí và doanh nghiệp, những hạn chế trong thực thi chính sách sẽ dần được cải thiện”, bà nói và khép lại phần chia sẻ bằng một chữ: “Lạc quan”.
11:40
Tổng kết tọa đàm, ông Hoàng Anh Minh, Tổng biên tập Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, cho biết qua các ý kiến trao đổi của chuyên gia có thể thấy trong một năm qua đã xuất hiện nhiều chuyển biến đáng chú ý về mặt chính sách. Hàng loạt nghị quyết, chương trình hành động và văn bản liên quan tới phát triển kinh tế tư nhân được ban hành với tốc độ nhanh, đồng thời cũng mang ý nghĩa thực tiễn nhất định.
Tuy nhiên, theo ông, nếu nhìn vào thực chất thì những chuyển biến đó vẫn chưa chưa đi được hết các ngõ ngách của nền kinh tế. Để Nghị quyết 68 đi vào cuộc sống một cách thực chất hơn, vẫn cần rất nhiều nỗ lực cải cách trong thời gian tới.
Ông cho rằng thực tiễn một năm triển khai cũng cho thấy nhiều vướng mắc cũ trong môi trường đầu tư kinh doanh vẫn chưa được xử lý triệt để. Đặc biệt, vấn đề được các chuyên gia nhắc đến nhiều là năng lực thực thi của hệ thống.
“Chúng ta nói nhiều tới cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nhưng cuối cùng câu chuyện vẫn quay về năng lực thực thi và sự đồng bộ trong triển khai chính sách”, ông nhấn mạnh.
Theo ông Hoàng Anh Minh, các chuyên gia tại tọa đàm cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan tới mô hình tăng trưởng của nền kinh tế, dư địa phát triển của khu vực tư nhân cũng như yêu cầu tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong giai đoạn tới.

Ông cho biết, trên thực tế, câu chuyện thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh không phải đến Nghị quyết 68 mới được đặt ra, mà là hành trình đã được theo đuổi trong nhiều năm qua.
“Đây là câu chuyện mà chúng tôi đã theo đuổi từ rất lâu”, ông nói.
Theo đó, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance sẽ tiếp tục các hoạt động truyền thông và nghiên cứu nhằm cổ vũ cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung, cũng như thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp nói riêng.
Ông Hoàng Anh Minh cho biết trong một năm qua, ngoài việc tổ chức các tọa đàm chuyên đề, VietnamFinance cũng đã xuất bản ấn phẩm “Toàn cảnh Kinh tế tư nhân” ra mắt vào tháng 10/2025 nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam, đồng thời triển khai liên tục nhiều tuyến bài và chuyên đề liên quan tới chủ đề này.
“Chúng tôi xác định sẽ tiếp tục công việc đó để góp thêm tiếng nói cùng với Đảng, Nhà nước trong quá trình cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thời gian tới”, ông nhấn mạnh.

12:25:00 PM GMT+7Thứ 5, 14/05/2026

12:22:00 PM GMT+7Thứ 5, 14/05/2026

12:19:00 PM GMT+7Thứ 5, 14/05/2026
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global