Thứ 6, 15/05/2026 | English | Vietnamese
11:35:00 AM GMT+7Thứ 6, 15/05/2026
Giá Brent và WTI gần đây đã trở lại vùng 100 USD/thùng. Với kinh tế Việt Nam, bài toán không chỉ nằm ở giá dầu mà còn đi sâu vào chi phí logistics, nhập khẩu, biên lợi nhuận và dòng tiền.
Giá dầu thế giới đã trở lại vùng ba chữ số. Tính đến 14/5, Brent giao dịch quanh 105-106 USD/thùng, trong khi WTI ở vùng 100-101 USD/thùng. Sau gần 3 tháng chiến sự, đây không còn là một nhịp hồi kỹ thuật đơn thuần của giá dầu. Thị trường đang cộng thêm một lớp "phí bảo hiểm chiến tranh" vào giá, trong bối cảnh đàm phán giữa Mỹ và Iran bế tắc, lưu thông qua eo biển Hormuz vẫn bị hạn chế, còn sản lượng của OPEC+ rơi xuống mức thấp nhất trong hơn hai thập kỷ.
Với Việt Nam, rủi ro lớn nhất của cú sốc dầu không nằm ở giá xăng, mà ở cơ chế lan truyền của nó. Giá dầu đi vào CPI, cước tàu, hóa đơn nhập khẩu, giá nhựa, nhựa đường, chi phí vận tải và sau đó là biên lợi nhuận, vốn lưu động, dòng tiền và định giá doanh nghiệp.
Quý I/2026, tăng trưởng GDP đã chậm lại còn 7,83%, so với mức 8,46% của quý trước. CPI tháng 4 tăng 5,46% so với cùng kỳ, trong khi tỷ giá trung tâm ngày 14/5 được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.126 VND/USD. Trong một nền kinh tế có độ mở cao, phụ thuộc đáng kể vào năng lượng và nguyên liệu nhập khẩu, dầu tăng không đơn thuần là một biến số chi phí. Nó là phép thử sức chịu đựng của toàn bộ khu vực doanh nghiệp.
Cơ chế truyền dẫn đầu tiên của giá dầu là trực tiếp. Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguồn năng lượng nhập khẩu, trong đó hơn 80% dầu thô nhập khẩu quý I đến từ khu vực Trung Đông. Tính đến giữa tháng 4, Việt Nam nhập 3,64 triệu tấn dầu thô trị giá 2,14 tỷ USD. Trong bốn tháng đầu năm, nhập khẩu sản phẩm xăng dầu đạt 4,13 triệu tấn, trị giá 4,26 tỷ USD, tăng 92,6% về giá trị so với cùng kỳ.
Khi giá năng lượng đầu vào tăng vọt, mọi mắt xích thâm dụng vận tải, hóa dầu và nguyên liệu nhập khẩu đều lập tức nhận hóa đơn cao hơn.
Nhưng lớp truyền dẫn nguy hiểm hơn nằm ở tác động gián tiếp. Giá xăng dầu trong nước đã có những giai đoạn tăng mạnh, buộc Chính phủ phải tạm dừng một số sắc thuế nhiên liệu đến hết tháng 6 để hạ nhiệt. Dù vậy, CPI tháng 4 vẫn tăng 5,46% so với cùng kỳ, bình quân bốn tháng tăng 3,99%, còn lạm phát cơ bản tăng 3,89%.
Mỗi lô nguyên liệu nhập khẩu cùng khối lượng giờ cần nhiều USD hơn. Mỗi USD lại cần nhiều VND hơn để thanh toán, trong khi vòng quay hàng tồn kho và phải thu không tự động ngắn lại. Đó là lý do quý I, nhập khẩu của Việt Nam tăng nhanh hơn xuất khẩu, khiến cán cân thương mại thâm hụt 3,64 tỷ USD.
Bốn tháng đầu năm, mức thâm hụt đã lên 7,11 tỷ USD. Với các doanh nghiệp nhập khẩu nhiên liệu hoặc nguyên liệu hóa dầu, cú sốc dầu đồng thời là cú ép lên vốn lưu động.
Vận tải và logistics là tuyến đầu của cú sốc. Nhiên liệu thường chiếm 15-35% tổng chi phí vận tải. Riêng vận tải đường bộ, tỷ trọng này có thể lên 35-40%. Trong hàng hải và đường thủy, nhiên liệu chiếm khoảng 30-40% chi phí vận hành. Doanh nghiệp không thể nâng giá ngay lập tức, bởi nhiều hợp đồng vận tải đã được ký cố định trước đó. Độ trễ này buộc ngành phải hấp thụ cú tăng đầu tiên bằng biên lợi nhuận.
Hàng không chịu tác động sắc hơn. Nhiên liệu bay vừa là chi phí lớn, vừa là đầu vào gần như không thể thay thế. Vietnam Airlines cho biết nhiên liệu thường chiếm 30-40% chi phí vận hành: mỗi 1 USD/thùng Jet A1 tăng thêm so với kế hoạch có thể làm chi phí năm tăng hơn 300 tỷ đồng.
Với mặt bằng Jet A1 cuối tháng 4 quanh 190-220 USD/thùng, có lúc vượt 240 USD, chi phí cả năm của hãng có thể đội thêm 30.000 tỷ đồng, theo công bố của hãng. Giá vé nội địa đã tăng 15-20%, nhưng hàng không cũng là ví dụ điển hình cho giới hạn của chuyển giá. Tăng giá quá mạnh có thể bào mòn nhu cầu du lịch và làm suy giảm hệ số lấp đầy.
Với nhựa, hóa chất và bao bì, dầu còn nguy hiểm hơn vì nó nằm ngay trong cấu trúc nguyên liệu. Trung Đông chiếm hơn 40% xuất khẩu polyethylene toàn cầu năm 2025. Ở Việt Nam, giá nhựa PP nội địa trong tháng 3 tăng lên mốc 27.000-28.500 đồng/kg, tương đương 6-8% so với tháng 1. Với các doanh nghiệp nhựa, chỉ một nhịp lệch giữa giá đầu vào và giá bán cũng đủ làm lợi nhuận bị bào mòn nhanh chóng.
Trao đổi với tạp chí Nhà đầu tư/nhadautu.vn, Lãnh đạo một công ty trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp sản phẩm nhôm cho biết, áp lực lớn nhất hiện nay nằm ở khâu nhập mua nguyên vật liệu. "Giá cả biến động liên tục, các nhà cung cấp thường không chốt báo giá từ sớm mà điều chỉnh theo mặt bằng giá tại thời điểm giao hàng. Điều này khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc dự báo chi phí đầu vào cũng như xây dựng kế hoạch giá bán", vị này cho biết.
Chủ một công ty thành phẩm nhựa thì cho rằng, đối với nhóm nguyên liệu có liên quan đến dầu mỏ, hạt nhựa là mặt hàng chịu ảnh hưởng rõ rệt. Giá hạt nhựa tăng trong khi nguồn cung ngày càng khó thu mua do nguyên liệu trên thị trường không còn dồi dào như trước. "Đây là yếu tố đáng chú ý bởi hạt nhựa hiện chiếm tới 70-80% tỷ trọng trong cơ cấu sản phẩm của công ty. Trung bình mỗi tháng, doanh nghiệp sử dụng khoảng 2.000 tấn nhựa tái chế cho hoạt động sản xuất. Nguồn cung khan hiếm trong thời gian qua cũng một phần do cơ chế và thủ tục nhập khẩu, đây là điều chúng tôi mong muốn được Chính phủ xem xét và hỗ trợ", lãnh đạo này chia sẻ.
Các ngành xuất khẩu như thủy sản, dệt may, gỗ và tiêu dùng nhanh lại rơi vào thế "kẹt giữa". Một mặt, logistics, điện, bao bì và nguyên liệu tăng giá. Mặt khác, khách hàng quốc tế không dễ chấp nhận giá bán cao hơn trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu còn thiếu chắc chắn. Xuất khẩu thủy sản quý I đạt 2,64 tỷ USD, tăng 14,4%, trong khi dệt may vẫn đặt mục tiêu 49–49,5 tỷ USD cho cả năm. Tuy nhiên, các hiệp hội ngành đều nhấn mạnh áp lực từ gián đoạn chuỗi cung ứng, logistics và nhu cầu yếu.
Trong xây dựng và vật liệu, cú sốc dầu mang màu sắc hợp đồng rõ hơn. Tính đến cuối tháng 3, xi măng tăng khoảng 7,2% so với tháng 2, thép tăng 2,2%, cát đá gạch tăng 13,5-23,3%, còn nhựa đường tăng tới 31,77%. Với các dự án hạ tầng, nhiên liệu chiếm 30-50% chi phí vận hành máy móc, khiến dầu tăng không chỉ bào mòn lợi nhuận nhà thầu mà còn làm đội tổng mức đầu tư công.
Chu kỳ giá dầu hiện tại không tác động đồng đều lên toàn bộ thị trường. Những doanh nghiệp chống chịu tốt thường có ít nhất một trong bốn lợi thế: quy mô đủ lớn để đàm phán lại giá mua và giá bán; chuỗi cung ứng đủ sâu để tối ưu nguồn hàng và tồn kho; bảng cân đối đủ khỏe để tài trợ vốn lưu động tăng thêm; và thị phần đủ mạnh để áp phụ phí mà không mất khách ngay lập tức.
Ngược lại, nhóm dễ tổn thương nhất là các doanh nghiệp biên mỏng, đòn bẩy cao, phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu và vận hành theo hợp đồng chốt giá trước. Đây là nhóm không chỉ mất biên lợi nhuận, mà còn mất dòng tiền. Hàng tồn kho và khoản phải thu phình lên đúng lúc lãi suất quốc tế chưa giảm đáng kể và USD còn mạnh. Trong logistics, có doanh nghiệp cho biết riêng nhiên liệu đã đội thêm vài tỷ đồng mỗi tháng khi mức tiêu thụ lên 500.000-700.000 lít vào mùa cao điểm.

11:50:00 AM GMT+7Thứ 6, 15/05/2026

11:48:00 AM GMT+7Thứ 6, 15/05/2026

11:47:00 AM GMT+7Thứ 6, 15/05/2026
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global