VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 7, 11/04/2026 | English | Vietnamese

Trang chủDoanh nghiệpKhơi thông và phát huy nguồn lực cho phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực Việt Nam trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

Khơi thông và phát huy nguồn lực cho phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực Việt Nam trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

11:03:00 AM GMT+7Thứ 7, 11/04/2026

Chỉ khi hình thành một cấu trúc với doanh nghiệp lớn dẫn dắt, doanh nghiệp vừa và nhỏ lan tỏa, Nhà nước kiến tạo phát triển, Việt Nam mới có thể tạo dựng được nền tảng doanh nghiệp đủ mạnh cho một mô hình tăng trưởng mới.

1. Bối cảnh

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển có tính bản lề, khi yêu cầu duy trì tốc độ tăng trưởng cao phải đồng thời đi cùng với nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thập niên tới không chỉ là một định hướng điều hành, mà còn là yêu cầu khách quan để rút ngắn khoảng cách phát triển, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt.

Tuy nhiên, các động lực tăng trưởng truyền thống dựa trên lao động chi phí thấp, khai thác tài nguyên, mở rộng vốn đầu tư và gia công lắp ráp đang dần suy giảm hiệu lực. Trong bối cảnh đó, tăng trưởng trong giai đoạn tới chỉ có thể được dẫn dắt bởi năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và một khu vực doanh nghiệp nội địa đủ mạnh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hình thành lực lượng doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu, đủ sức dẫn dắt các ngành, lĩnh vực chiến lược và tạo hiệu ứng lan tỏa tới toàn bộ nền kinh tế.

Các tập đoàn kinh tế chủ lực, xét cho cùng, không chỉ là những doanh nghiệp lớn về quy mô vốn, tài sản hay doanh thu. Quan trọng hơn, đó phải là các chủ thể có năng lực tổ chức sản xuất quy mô lớn, làm chủ hoặc hấp thụ hiệu quả công nghệ, mở rộng thị trường, kết nối doanh nghiệp vệ tinh, dẫn dắt chuỗi giá trị và tạo ra những chuẩn mực mới về quản trị, đổi mới sáng tạo và năng suất. Một nền kinh tế muốn bứt phá và vươn lên nhóm thu nhập cao không thể chỉ dựa vào một khu vực doanh nghiệp nhỏ, phân tán và năng lực tích lũy hạn chế; phía sau mỗi giai đoạn cất cánh thành công thường đều có sự hiện diện của những doanh nghiệp và tập đoàn nội địa đủ mạnh để trở thành lực lượng dẫn dắt.

Tại Việt Nam, định hướng này đã được thể hiện nhất quán trong nhiều chủ trương lớn của Đảng gần đây, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.

Điểm gặp nhau của các định hướng này là yêu cầu phải hình thành nhanh lực lượng doanh nghiệp vừa và lớn, phát triển các tập đoàn kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc tế, đồng thời phát huy vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực nền tảng, chiến lược và những không gian công nghệ có ý nghĩa đối với an ninh kinh tế quốc gia. Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; Nghị quyết 79-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.

Vấn đề cốt lõi hiện nay, vì vậy, không còn là có nên phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực hay không, mà là làm thế nào để kiến tạo được một thể chế phát triển và cơ chế phân bổ nguồn lực đủ hiệu quả nhằm hình thành những tập đoàn kinh tế thực chất, có năng lực cạnh tranh thực sự, làm chủ công nghệ lõi, có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường khu vực và toàn cầu. Nói cách khác, phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực không phải là một mục tiêu riêng lẻ của chính sách doanh nghiệp, mà là một nội dung trung tâm của bài toán đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên tăng trưởng mới.

2. Kinh nghiệm Đông Á về phát triển các doanh nghiệp chủ lực

Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan (Trung Quốc) và Hồng Kông (Trung Quốc) thường được xem là những “con hổ châu Á”, tức các nền kinh tế đã trải qua quá trình công nghiệp hóa nhanh, duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều thập kỷ và từng bước vươn lên nhóm thu nhập cao (World Bank, 1993; Harvard University, 2009; Page 1994; ADB 2020). Mặc dù con đường phát triển của mỗi quốc gia có khác nhau, kinh nghiệm từ các nền kinh tế này cho thấy một điểm chung mang tính cấu trúc: Quá trình bứt phá không chỉ đến từ mở cửa thị trường hay tích lũy vốn đơn thuần, mà được dẫn dắt bởi sự kết hợp giữa chiến lược phát triển hướng mạnh ra xuất khẩu, sự hình thành các doanh nghiệp và tập đoàn nội địa có năng lực cạnh tranh toàn cầu, cùng với vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước.

Thứ nhất, đây đều là các nền kinh tế lựa chọn mô hình tăng trưởng hướng ra xuất khẩu như một động lực trung tâm của công nghiệp hóa. Việc tham gia sâu vào thương mại quốc tế không chỉ mở rộng quy mô thị trường, mà còn tạo áp lực cạnh tranh, thúc đẩy nâng chuẩn công nghệ, năng suất, chất lượng và năng lực quản trị. Chính trong môi trường cạnh tranh đó, các doanh nghiệp nội địa có cơ hội trưởng thành, tích lũy năng lực và từng bước tham gia vào các nấc thang giá trị cao hơn của chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ hai, đằng sau quá trình bứt phá của các nền kinh tế Đông Á là sự hiện diện của các doanh nghiệp và tập đoàn nội địa đủ lớn để tổ chức sản xuất quy mô lớn, dẫn dắt đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường và lan tỏa năng lực cho khu vực doanh nghiệp còn lại. Ở Hàn Quốc, các chaebol như Samsung, Hyundai, LG hay SK không chỉ là những doanh nghiệp lớn, mà còn trở thành hạt nhân của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại Đài Loan (Trung Quốc), mặc dù cấu trúc doanh nghiệp cân bằng hơn giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ, song vẫn hình thành được các doanh nghiệp công nghệ đầu tàu đủ sức chi phối những mắt xích chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Kinh nghiệm này cho thấy không có quốc gia nào vươn lên thành công mà không hình thành được lực lượng doanh nghiệp nội địa đủ mạnh để dẫn dắt các ngành, lĩnh vực then chốt.

Thứ ba, vai trò của Nhà nước trong các nền kinh tế Đông Á không phải là thay thế thị trường, mà là kiến tạo phát triển thông qua lựa chọn ưu tiên chiến lược, điều phối nguồn lực, đầu tư cho hạ tầng và con người, hỗ trợ có mục tiêu và duy trì kỷ luật thị trường. Nhà nước không chỉ “mở đường” cho doanh nghiệp bằng thể chế, mà còn tạo áp lực nâng cấp liên tục thông qua cạnh tranh, xuất khẩu, tiêu chuẩn công nghệ và hiệu quả. Bài học quan trọng ở đây là phát triển các doanh nghiệp và tập đoàn chủ lực không đồng nghĩa với ưu ái hành chính hay nuôi dưỡng đặc quyền; ngược lại, đó phải là quá trình lựa chọn, hỗ trợ và sàng lọc trên cơ sở hiệu quả thực, năng lực đổi mới và khả năng cạnh tranh quốc tế.

Từ kinh nghiệm Đông Á, có thể rút ra ba bài học lớn cho Việt Nam. Một là, muốn vượt bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam phải tiếp tục theo đuổi mô hình tăng trưởng hướng mạnh ra xuất khẩu nhưng trên nền tảng giá trị gia tăng cao hơn, làm chủ công nghệ tốt hơn và tỷ lệ nội địa hóa sâu hơn. Hai là, Việt Nam cần hình thành được lực lượng doanh nghiệp và tập đoàn nội địa có năng lực cạnh tranh khu vực, toàn cầu, đủ sức dẫn dắt công nghệ, thị trường và chuỗi giá trị. Ba là, Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo phát triển, tức là thiết kế thể chế, điều phối nguồn lực và xây dựng môi trường cạnh tranh để doanh nghiệp lớn lên bằng năng lực thực chất, chứ không phải bằng đặc quyền tiếp cận nguồn lực.

Nói cách khác, bài học lớn nhất không phải là “cần có doanh nghiệp lớn”, mà là cần có một cấu trúc phát triển lành mạnh, có tính kế thừa, bổ trợ, trong đó doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và các thiết chế công cùng vận hành trong một hệ sinh thái có định hướng chiến lược, có kỷ luật thị trường và có khả năng liên tục nâng cấp năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bên cạnh mô hình Đông Á, kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia khác cũng cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của các doanh nghiệp dẫn dắt. Đây là những chủ thể đóng vai trò như các trung tâm nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trên phạm vi toàn cầu; đồng thời, các tập đoàn lớn còn có thể tạo ra những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu ngành và cơ cấu xuất khẩu của cả nền kinh tế (Freund và cộng sự, 2017; Gaubert và cộng sự, 2018). Không chỉ vậy, các doanh nghiệp này còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đối với đối tác, nhà cung cấp và khách hàng trong chuỗi giá trị thông qua việc chia sẻ kiến thức, công nghệ và chuẩn mực quản trị tới các thành phần còn lại của nền kinh tế, thông qua các mối quan hệ cung ứng, hợp tác sản xuất và dịch chuyển lao động (Ebeke và cộng sự, 2017; De Fuentes và cộng sự, 2013; Pyo và cộng sự, 2018). Trong những giai đoạn kinh tế bất lợi, khu vực doanh nghiệp lớn cũng thường có khả năng chống chịu tốt hơn, qua đó trở thành bệ đỡ cho nền kinh tế, góp phần hạn chế thất nghiệp và suy giảm năng suất (Hallward-Driemeier và cộng sự, 2013). Đồng thời, doanh nghiệp lớn còn là động lực quan trọng thúc đẩy tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế, bởi đây thường là khu vực tạo ra nhiều việc làm hơn, trả lương cao hơn và có đóng góp lớn hơn đối với tăng trưởng năng suất so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ (Ayyagari và cộng sự, 2014; Haltiwanger và cộng sự, 2013).

3. Những điểm nghẽn của Việt Nam trong hình thành lực lượng doanh nghiệp chủ lực

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu về tăng trưởng, hội nhập và phát triển khu vực doanh nghiệp, Việt Nam đến nay vẫn chưa hình thành được một cấu trúc doanh nghiệp đủ mạnh để tạo ra lực lượng doanh nghiệp dẫn dắt ở quy mô khu vực và toàn cầu. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ là thiếu doanh nghiệp lớn, mà là chưa có một hệ thống doanh nghiệp đủ dày, đủ liên kết và đủ năng lực để nuôi dưỡng quá trình đi từ nhỏ lên vừa, từ vừa lên lớn và từ lớn thành dẫn dắt.

Thứ nhất, cấu trúc doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn phân mảnh, với tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm ưu thế tuyệt đối. Theo Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2025, tính đến ngày 31/12/2023, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm 67,1% tổng số doanh nghiệp cả nước, trong khi doanh nghiệp quy mô lớn chỉ chiếm 2,7%. Mặc dù số lượng doanh nghiệp đang hoạt động đã vượt 940 nghìn, số doanh nghiệp Việt Nam thực sự đạt tới quy mô và năng lực cạnh tranh khu vực, toàn cầu vẫn còn rất khiêm tốn. Điều đó phần nào thể hiện qua việc Việt Nam mới chỉ có 76 doanh nghiệp trong bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 năm 2025 và 8 doanh nghiệp trong danh sách Forbes Global 2000 năm 2025.

Vấn đề đáng lưu ý hơn là Việt Nam đang thiếu một “lớp doanh nghiệp ở giữa”, tức nhóm doanh nghiệp vừa có đủ năng lực để phát triển thành doanh nghiệp lớn, vừa có khả năng kết nối doanh nghiệp nhỏ với các chuỗi giá trị lớn hơn. Hiện tượng “missing middle” này khiến cấu trúc doanh nghiệp phát triển theo dạng đáy rộng nhưng phần thân giữa mỏng, làm gián đoạn quá trình tích tụ quy mô, nâng cấp năng lực nội sinh và hình thành lực lượng doanh nghiệp dẫn dắt trong dài hạn.

Thứ hai, lực lượng doanh nghiệp lớn của Việt Nam chưa thực sự tương xứng với yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới, cả về số lượng lẫn cơ cấu ngành. Nhiều doanh nghiệp lớn hiện nay vẫn tập trung ở các lĩnh vực như bất động sản, tài chính, ngân hàng hoặc những ngành dựa nhiều vào lợi thế thị trường nội địa. Trong khi đó, Việt Nam còn thiếu các doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh nổi trội trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp chế tạo tiên tiến, công nghiệp nền tảng và các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Điều này khiến nền kinh tế chưa hình thành được đầy đủ lực lượng doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt quá trình nâng cấp công nghệ, đổi mới sáng tạo và tái cấu trúc chuỗi giá trị theo hướng hiện đại hơn. Trong danh mục VN30 ETF quý I/2026, nhóm tài chính chiếm tới 40% tỷ trọng danh mục và có 15/30 doanh nghiệp trong rổ, trong khi nhóm bất động sản chiếm 14% với 3/30 doanh nghiệp; các ngành còn lại phân bổ khá mỏng, nhiều ngành chỉ có một hoặc vài doanh nghiệp hiện diện.

Thứ ba, thành tựu xuất khẩu của Việt Nam nhìn từ góc độ năng lực nội sinh vẫn còn bộc lộ một nghịch lý đáng chú ý. Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có độ mở rất cao và quy mô xuất khẩu lớn, nhưng phần lớn năng lực xuất khẩu và thặng dư thương mại vẫn nghiêng mạnh về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1% và chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1% và chiếm 77,3%. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 49,46 tỷ USD (Cục Thống kê, 2026). Điều này cho thấy thành tích xuất khẩu của Việt Nam chưa phản ánh đầy đủ sức mạnh của khu vực doanh nghiệp nội địa. Trong nhiều ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, trong khi những mắt xích có giá trị cao hơn vẫn tiếp tục tập trung chủ yếu ở khu vực FDI.

Thứ tư, nền tảng năng suất và công nghệ của Việt Nam vẫn còn khoảng cách đáng kể so với yêu cầu của một nền kinh tế thu nhập cao. Theo Cục Thống kê, năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2025 ước đạt 245 triệu đồng/lao động, tương đương 9.809 USD/lao động. Tính theo ngang giá sức mua, năng suất lao động của Việt Nam mới tương đương Indonesia nhưng vẫn còn cách khá xa Malaysia, Thái Lan và đặc biệt thấp hơn nhiều so với Singapore. Cùng với đó, đóng góp của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào tăng trưởng vẫn chưa tương xứng. Theo hồ sơ Việt Nam trong Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025, tổng chi cho nghiên cứu và phát triển mới ở mức 0,4% GDP; Việt Nam đứng thứ 70 về trụ cột nguồn nhân lực và nghiên cứu, đồng thời chưa có cụm đổi mới sáng tạo nào thuộc nhóm hàng đầu thế giới. Những chỉ báo này cho thấy Việt Nam còn thiếu cả nền tảng công nghệ lẫn cấu trúc doanh nghiệp đủ mạnh để hấp thụ, làm chủ và thương mại hóa các thành quả đổi mới.

Thứ năm, khả năng tiếp cận nguồn lực trung và dài hạn cho quá trình lớn lên của doanh nghiệp vẫn còn là một điểm nghẽn lớn. Theo Khảo sát Doanh nghiệp Việt Nam năm 2023 của World Bank, 21% doanh nghiệp cho rằng tiếp cận tài chính là trở ngại lớn đối với hoạt động của mình, cao hơn mức bình quân của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Trong thực tế, ngoài nhóm doanh nghiệp lớn hoặc có mức tín nhiệm cao, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư công nghệ, mở rộng quy mô và tham gia vào các ngành có yêu cầu vốn lớn. Thị trường vốn trong nước chưa phát triển đủ chiều sâu, trong khi các công cụ huy động vốn cho đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, đầu tư mạo hiểm và công nghiệp chiến lược còn hạn chế.

Tựu trung lại, những điểm nghẽn nêu trên cho thấy khu vực doanh nghiệp Việt Nam tuy phát triển nhanh về số lượng nhưng vẫn chưa hình thành được một cấu trúc đủ mạnh để nuôi dưỡng và lựa chọn lực lượng doanh nghiệp dẫn dắt. Nếu không sớm khắc phục các điểm nghẽn này, Việt Nam sẽ khó hình thành được lớp doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế chủ lực đủ tầm để dẫn dắt công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững trong giai đoạn tới.

4. Khơi thông và phát huy nguồn lực cho phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực

Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của Đổi mới 2.0. Năm 2025, một loạt các Nghị quyết quan trọng được ban hành, tạo lập “la bàn quốc gia” cho phát triển, trong khi giai đoạn 2026-2030 được xác lập là giai đoạn thực thi. Trong bức tranh tổng thể đó, chính sách phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực cần được tiếp cận như một cấu phần trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Vấn đề không còn dừng ở việc hỗ trợ một số doanh nghiệp mở rộng quy mô, mà phải hướng tới kiến tạo một lớp doanh nghiệp và tập đoàn đủ lớn, đủ mạnh, đủ tự chủ.

Trước hết, đột phá phải bắt đầu từ thể chế kiến tạo. Một môi trường phát triển lành mạnh cho các tập đoàn kinh tế chủ lực không thể hình thành nếu quyền tài sản chưa được bảo đảm đầy đủ, quyền tự do kinh doanh còn bị hạn chế bởi các rào cản hành chính, và chi phí tuân thủ vẫn bị đẩy lên bởi tình trạng chồng chéo, phân tán và thiếu nhất quán của hệ thống pháp luật. Cải cách thể chế trong giai đoạn tới phải hướng tới việc thiết lập một khuôn khổ minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao, trong đó doanh nghiệp lớn lên bằng năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực, chứ không phải bằng phương thức tiếp cận đặc quyền hay quan hệ hành chính. Cùng với đó, cần mở đường về mặt pháp lý cho quá trình tích tụ và tập trung nguồn lực theo cơ chế thị trường, coi đây là điều kiện thiết yếu để hình thành các doanh nghiệp có quy mô đủ lớn trong những ngành đòi hỏi vốn cao, công nghệ cao và tầm nhìn đầu tư dài hạn.

Cùng với cải cách thể chế, việc phát triển thị trường vốn trong nước phải được xem là một đột phá chiến lược để giải quyết bài toán nguồn lực cho doanh nghiệp trưởng thành. Một nền kinh tế muốn có các tập đoàn mạnh không thể chỉ dựa chủ yếu vào vốn ngắn hạn. Điều thiết yếu là phải hình thành được một cấu trúc tài chính đa tầng, trong đó thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư cho khoa học công nghệ, chuyển đổi số và công nghiệp chiến lược cùng vận hành theo hướng tương hỗ. Đặc biệt, đối với những dự án có tính đột phá quốc gia, Nhà nước cần đóng vai trò "kiến tạo thị trường", thiết kế cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý để kéo khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào những lĩnh vực có mức độ bất định cao nhưng tác động lan tỏa lớn.

Trọng tâm tiếp theo là phải đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí hạt nhân của chiến lược phát triển tập đoàn kinh tế chủ lực. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa nhiều hơn vào tri thức, dữ liệu, công nghệ lõi và năng lực tổ chức chuỗi giá trị, một tập đoàn lớn nhưng không làm chủ công nghệ, không có năng lực nghiên cứu và phát triển, không tạo ra được tài sản trí tuệ và không chiếm lĩnh được các mắt xích có giá trị gia tăng cao thì khó có thể đóng vai trò dẫn dắt. Vì vậy, tiêu chí xác định doanh nghiệp đầu tàu trong giai đoạn mới phải được chuyển từ tư duy “lớn về tài sản, lớn về doanh thu” sang tư duy “mạnh về công nghệ, mạnh về đổi mới, mạnh về năng lực kiến tạo hệ sinh thái”. Đây cũng là cách để bảo đảm rằng việc phát triển tập đoàn kinh tế chủ lực không đi theo lối mòn quy mô đã cũ, mà thực sự trở thành động lực nâng cấp nền kinh tế.

Bên cạnh đó, cần tái định vị vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân trong một cấu trúc phát triển bổ trợ lẫn nhau. Kinh tế nhà nước cần tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực then chốt, chiến lược và các công nghệ nền tảng hoặc có ý nghĩa an ninh kinh tế quốc gia. Trong khi đó, kinh tế tư nhân cần được tạo điều kiện để trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, thương mại hóa công nghệ, mở rộng thị trường và hội nhập quốc tế. Khi được đặt đúng vị trí và được kết nối bằng một thiết chế hợp lý, hai khu vực này có thể tạo ra sức mạnh cộng hưởng, hình thành một cấu trúc doanh nghiệp quốc gia vừa có chiều rộng, vừa có chiều sâu, vừa có năng lực phòng thủ, vừa có năng lực bứt phá.

Một yêu cầu có ý nghĩa quyết định khác là phải thiết kế cơ chế liên kết chuỗi theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. Các tập đoàn kinh tế chủ lực không thể phát triển như những “ốc đảo” biệt lập, càng không thể chỉ lớn lên trên phần giá trị riêng của mình mà không tạo ra tác động lan tỏa tới phần còn lại của nền kinh tế. Mỗi tập đoàn chủ lực cần được đặt trong mối liên kết hữu cơ với một mạng lưới doanh nghiệp vệ tinh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Chính trong quá trình đó, tỷ lệ nội địa hóa mới có thể được nâng lên, năng lực hấp thụ công nghệ mới có thể được cải thiện và giá trị gia tăng trong nước mới có thể được giữ lại nhiều hơn. Việc sử dụng mua sắm công và đặt hàng công như một công cụ hỗ trợ là cần thiết, nhưng phải được thiết kế trên nguyên tắc cạnh tranh công bằng, minh bạch và gắn với yêu cầu nâng chuẩn năng lực của doanh nghiệp nội địa, tránh tình trạng biến tướng..

Cuối cùng, phát triển tập đoàn kinh tế chủ lực chỉ có thể hiệu quả khi đi cùng với sự lựa chọn chiến lược về ngành và lĩnh vực ưu tiên. Việt Nam không thể dàn trải nguồn lực cho mọi ngành, mà cần tập trung vào một số lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với tăng trưởng dài hạn, nâng cấp công nghệ và gia tăng năng lực tự chủ của nền kinh tế. Việc lựa chọn này phải dựa trên lợi thế so sánh động, tiềm năng thị trường, khả năng hấp thụ công nghệ, mức độ lan tỏa và ý nghĩa chiến lược đối với vị thế cạnh tranh quốc gia. Nói cách khác, hình thành tập đoàn kinh tế chủ lực không phải là mục tiêu tự thân, mà là công cụ để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiện đại hơn, sáng tạo hơn, tự chủ hơn và có khả năng vươn lên mạnh mẽ hơn trong kỷ nguyên tăng trưởng mới.

Trong bối cảnh mới, khi môi trường bên ngoài ngày càng biến động, xu thế toàn cầu hóa theo nghĩa truyền thống đang chậm lại và cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gay gắt, yêu cầu tăng cường nội lực của nền kinh tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh việc tạo điều kiện để hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế chủ lực, chính sách cũng phải đặc biệt coi trọng việc nuôi dưỡng hệ sinh thái cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nói cách khác, cần làm tổ cho “đại bàng”, nhưng cũng cần những cánh đồng rộng lớn và tự do cho “chim sẻ”. Chỉ khi hình thành được một cấu trúc như vậy, trong đó doanh nghiệp lớn dẫn dắt, doanh nghiệp vừa và nhỏ lan tỏa, còn Nhà nước kiến tạo phát triển, Việt Nam mới có thể tạo dựng được nền tảng doanh nghiệp đủ mạnh cho một mô hình tăng trưởng mới.

TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc, Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV); Trần Đức Anh, Nghiên cứu viên, Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ayyagari, M., Demirgüç-Kunt, A., & Maksimovic, V. (2014). Ai tạo ra việc làm ở các nước đang phát triển? Kinh tế học Doanh nghiệp nhỏ, 43(1), 75–99.

2. Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2026 về phát triển kinh tế nhà nước.

3. Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

4. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

5. Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025). Con người và khoa học, công nghệ là “cốt lõi” nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cải thiện năng suất bền vững.

6. Cục Thống kê, Bộ Tài chính. (2025). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2025. Nhà xuất bản Thống kê.

7. De Fuentes, C., & Dutrénit, G. (2013). Năng lực hấp thụ của doanh nghiệp nhỏ và vừa và hiệu ứng lan tỏa tri thức từ doanh nghiệp lớn: Bằng chứng vi mô từ ngành cơ khí chế tạo tại Mexico. Thể chế và Kinh tế, 5(1), 1–30.

8. Ebeke, C., Dabla-Norris, E., & Muthoora, P. (2017). Nguồn gốc vi mô của các biến động kinh tế vĩ mô ở châu Âu (IMF Working Paper WP/17/229). Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

9. EY và Đại học St.Gallen. (2025). Chỉ số 500 doanh nghiệp gia đình lớn nhất thế giới năm 2025. EY.

10. Forbes. (2025). Forbes’s 2025 Global 2000.

11. Fortune. (2025). Fortune Southeast Asia 500. Fortune.

12. Freund, C., & Moran, T. H. (2017). Các nhà đầu tư đa quốc gia như những “siêu sao xuất khẩu”: Chính phủ các nền kinh tế mới nổi có thể tái định hình lợi thế so sánh như thế nào (Bài nghiên cứu số 17-1). Viện Kinh tế Quốc tế Peterson.

13. Gaubert, C., & Itskhoki, O. (2020). Lợi thế so sánh ở cấp độ “hạt” (granular comparative advantage). Tạp chí Kinh tế Chính trị, 128(7), 2728–2778.

14. Haltiwanger, J., Jarmin, R. S., & Miranda, J. (2013). Ai tạo ra việc làm? Doanh nghiệp nhỏ so với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp trẻ so với doanh nghiệp lâu năm. Tạp chí Kinh tế và Thống kê, 95(2), 347–361.

15. Harvard (2009). Lựa chọn thành công.

16. Metreau, E., Young, K. E., & Eapen, S. G. (2025, ngày 1 tháng 7). Tìm hiểu mức thu nhập của các quốc gia: Phân loại thu nhập của Nhóm Ngân hàng Thế giới cho năm tài khóa 2026. Nhóm Ngân hàng Thế giới.

17. Ngân hàng Phát triển châu Á. (2020). Hành trình thịnh vượng của châu Á: Chính sách, thị trường và công nghệ trong 50 năm. Ngân hàng Phát triển châu Á.

18. Ngân hàng Thế giới. (1993). Phép màu Đông Á: Tăng trưởng kinh tế và chính sách công. Oxford University Press.

19. Page, J. (1994). Phép màu Đông Á: Bốn bài học cho chính sách phát triển. Trong S. Fischer & J. J. Rotemberg (chủ biên), Niên giám Kinh tế vĩ mô NBER 1994 (Tập 9, tr. 219–282). MIT Press.

20. Pyo, H., & Lee, S. (2018). Có tồn tại hiệu ứng lan tỏa từ tăng trưởng của các doanh nghiệp lớn trong mạng lưới chuỗi cung ứng hay không? Bằng chứng từ nền kinh tế Hàn Quốc. Thư Kinh tế Ứng dụng, 25(17), 1208–1211.

21. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế. (2025). Tổng hợp các chỉ số năng suất năm 2025. Nhà xuất bản OECD. https://doi.org/10.1787/b024d9e1-en

22. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới. (2025). Hồ sơ Việt Nam trong Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025.

23. Van Biesebroeck, J. (2005). Quy mô doanh nghiệp có ý nghĩa: Tăng trưởng và tăng trưởng năng suất trong ngành chế tạo ở châu Phi. Phát triển Kinh tế và Biến đổi Văn hóa, 53(3), 545–583.

24. Ngân hàng Thế giới. (2025). Việt Nam – Khảo sát Doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới năm 2023 / Viet Nam – World Bank Enterprise Survey 2023.

Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo '40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế'

Nhằm tạo diễn đàn để các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia và cộng đồng doanh nhân cùng nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi Mới, đánh giá vai trò dẫn dắt và khuyến nghị chính sách phát triển mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế, ngày 13/4 tại Hà Nội, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế".

Hội thảo có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các Bộ, Ban, Ngành Trung ương, hiệp hội, các chuyên gia kinh tế - tài chính - pháp luật, lãnh đạo các ngân hàng thương mại, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp trong nước.

Sự kiện được tường thuật trên Tạp chí điện tử Nhadautu.vn và ấn phẩm tiếng Anh Theinvestor.vn.

TheoTS. BÙI THANH MINH - TRẦN ĐỨC ANH (*) / Tạp chí điện tử Nhà đầu tư
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global