Thứ 2, 08/06/2026 | English | Vietnamese
01:20:00 PM GMT+7Thứ 2, 08/06/2026
Sau khoảng 8 năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, nhiều ngành kinh tế biển mới đã hình thành. Tuy nhiên, thể chế, quy hoạch và công nghệ vẫn là những điểm nghẽn cần tháo gỡ.
Nhân Ngày Đại dương thế giới (8/6) cùng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, xung quanh những kết quả đạt được sau gần một thập kỷ thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng như các giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn tới.
Những động lực tăng trưởng mới
- Sau gần một thập kỷ triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, theo ông, đâu là kết quả nổi bật nhất?
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Dấu ấn lớn nhất của Nghị quyết 36-NQ/TW là thay đổi tư duy phát triển biển. Nếu trước đây, trọng tâm là khai thác tiềm năng biển gắn với phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh, thì Nghị quyết 36-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Đây là sự thay đổi rất căn bản trong tư duy phát triển.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hạnh
Từ định hướng đó, nhiều ngành kinh tế biển mới đã hình thành như năng lượng tái tạo biển, nuôi biển công nghệ cao, dược liệu biển, nghề cá giải trí và các lĩnh vực kinh tế gắn với tăng trưởng xanh. Đây là những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, đồng thời góp phần giảm áp lực lên khai thác tài nguyên biển truyền thống.
Trong số đó, điện gió biển là một điểm sáng. Từ những dự án đầu tiên tại Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau), điện gió đã mở rộng ra nhiều địa phương ven biển và đang hướng tới các vùng biển xa bờ. Đây là lĩnh vực có tiềm năng lớn trong quá trình chuyển dịch năng lượng và phát triển kinh tế biển xanh.
Bên cạnh đó, nuôi biển đang trở thành hướng đi quan trọng trong tái cơ cấu ngành thủy sản. Khi nguồn lợi thủy sản tự nhiên suy giảm và các yêu cầu quốc tế về chống khai thác IUU ngày càng chặt chẽ, chuyển từ khai thác sang nuôi biển là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, nuôi biển phải dựa trên cơ sở khoa học và phù hợp với sức tải của hệ sinh thái biển. Nếu kiểm soát tốt mật độ nuôi, quy trình kỹ thuật và các yếu tố môi trường, đây sẽ là ngành kinh tế có nhiều triển vọng, vừa tạo sinh kế cho người dân ven biển, vừa góp phần phát triển kinh tế biển bền vững.
- Nghị quyết 36-NQ/TW mở ra những cơ hội nào cho kinh tế biển trong giai đoạn tới, thưa ông?
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Ngoài năng lượng tái tạo và nuôi biển, du lịch biển là lĩnh vực có nhiều dư địa phát triển. Sau đại dịch Covid-19, du lịch biển phục hồi nhanh và đang lấy lại đà tăng trưởng. Nếu xu hướng này được duy trì, mục tiêu đưa du lịch biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2030 hoàn toàn khả thi.
Du lịch biển có lợi thế ở khả năng tạo giá trị gia tăng lớn, thúc đẩy thương mại, dịch vụ và tạo việc làm cho địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường biển. Rác thải nhựa, nước thải từ các khu du lịch, khách sạn, resort cần được kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm phát triển bền vững.
Tháo điểm nghẽn thể chế để khai mở không gian kinh tế biển
- Hiện nay, dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đang được xây dựng. Theo ông, đâu là những nội dung cần được ưu tiên sửa đổi để thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh?
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Vấn đề cốt lõi là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và quản lý không gian biển. Biển là không gian đa mục đích, nơi cùng lúc diễn ra các hoạt động như nuôi biển, du lịch, năng lượng tái tạo, giao thông hàng hải, khai thác tài nguyên và bảo tồn sinh thái. Vì vậy, không thể tiếp tục quản lý theo cách tiếp cận đơn ngành. Cần chuyển mạnh sang quản lý tổng hợp, liên ngành và dựa trên hệ sinh thái. Thay vì chỉ quản lý từng đối tượng riêng lẻ, phải quản lý cả không gian sinh thái và các hoạt động tác động đến hệ sinh thái đó.
Vấn đề cốt lõi là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và quản lý không gian biển. Ảnh minh họa
Một nội dung khác cần được hoàn thiện là quy hoạch không gian biển. Hiện nay, quy hoạch chủ yếu được thực hiện ở cấp quốc gia, trong khi nhu cầu quản lý tại địa phương ngày càng lớn. Luật sửa đổi cần làm rõ các công cụ quản lý không gian biển cho địa phương, giúp các tỉnh, thành phố ven biển chủ động hơn trong phát triển kinh tế biển.
Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phân bổ không gian để hạn chế xung đột giữa các ngành như nuôi biển, du lịch, năng lượng tái tạo, giao thông hàng hải và bảo tồn sinh thái. Bên cạnh đó, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển phải được coi là nền tảng của kinh tế biển xanh. Bảo tồn không chỉ là mở rộng diện tích các khu bảo tồn mà quan trọng hơn là phục hồi nguồn lợi thủy sản và nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái biển.
- Hoàn thiện thể chế sẽ tác động như thế nào đến khả năng thu hút đầu tư vào kinh tế biển, thưa ông?
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi: Tiềm năng kinh tế biển của Việt Nam rất lớn nhưng mức độ đầu tư hiện nay vẫn chưa tương xứng. Chúng ta có không gian biển rộng, nhưng chưa hình thành được nhiều ngành kinh tế biển đủ sức tạo động lực và thu hút nguồn lực xã hội. Trong khi trên đất liền có hàng triệu doanh nghiệp hoạt động, các dự án đầu tư quy mô lớn trên biển vẫn còn khá hạn chế.
Muốn thay đổi điều này, trước hết phải tạo dựng môi trường chính sách ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo. Khi thể chế đủ hấp dẫn, dòng vốn sẽ mạnh dạn tham gia vào các lĩnh vực như điện gió biển, nuôi biển công nghiệp, dịch vụ hàng hải hay du lịch biển chất lượng cao.
Tuy nhiên, phát triển kinh tế biển không chỉ là câu chuyện của vốn đầu tư mà còn là câu chuyện của khoa học, công nghệ. Càng vươn ra biển xa, biển sâu, yêu cầu về công nghệ và nguồn nhân lực càng cao. Muốn phát triển điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp hay các ngành kinh tế biển hiện đại, Việt Nam phải từng bước làm chủ công nghệ, đầu tư cho nghiên cứu biển và xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao.
Nếu tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn về thể chế, quy hoạch, khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực, kinh tế biển sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước trong những năm tới.
Xin cảm ơn ông!
Biển là một không gian đa chiều, nơi diễn ra đồng thời nhiều hoạt động kinh tế như nuôi biển, du lịch, năng lượng tái tạo, giao thông hàng hải, khai thác tài nguyên và bảo tồn sinh thái. Vì vậy, không thể tiếp tục quản lý theo cách tiếp cận đơn ngành như trước đây. Điều cần thiết là chuyển sang mô hình quản lý tổng hợp, liên ngành và dựa trên hệ sinh thái. Đây cũng là xu hướng quản trị biển hiện đại mà nhiều quốc gia đang áp dụng.
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global