VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 2, 29/06/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpNgành xi măng kiến nghị 'mềm hóa' phân bổ hạn ngạch khí nhà kính

Ngành xi măng kiến nghị 'mềm hóa' phân bổ hạn ngạch khí nhà kính

02:31:00 PM GMT+7Thứ 2, 29/06/2026

Doanh nghiệp xi măng cho rằng, việc phân bổ hạn ngạch khí nhà kính hiện còn chênh lệch so với thực tế sản xuất và cần có phương pháp tiếp cận linh hoạt hơn.

Nhiều doanh nghiệp phản ánh hạn ngạch chưa sát thực tế phát thải

Tại Hội thảo “Tăng cường năng lực về Hệ thống Báo cáo kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở và giảm phát thải khí nhà kính cho các lĩnh vực nhiệt điện, xi măng và sắt thép”, ông Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam, cho biết sau khi nghiên cứu Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 - 2026 và Quyết định số 699/QĐ-BNNMT về thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính năm 2025 và năm 2026 cho 51 doanh nghiệp xi măng, nhiều vấn đề thực tiễn đã được ghi nhận.

Hiệp hội Xi măng Việt Nam kiến nghị hoàn thiện cơ chế phân bổ hạn ngạch khí nhà kính theo hướng linh hoạt hơn. Ảnh: Dũng Minh

Hiệp hội Xi măng Việt Nam kiến nghị hoàn thiện cơ chế phân bổ hạn ngạch khí nhà kính theo hướng linh hoạt hơn. Ảnh: Dũng Minh

Theo ông Long, một số doanh nghiệp được phân bổ hạn ngạch khá sát với sản lượng thực tế giai đoạn 2023–2024, song cũng có nhiều trường hợp mức phân bổ thấp hơn đáng kể so với phát thải thực tế. Số liệu của Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho thấy, trong 4–5 năm gần đây, các nhà máy xi măng vận hành trung bình khoảng 80–90% công suất thiết kế. Tuy nhiên, có những cơ sở chỉ được phân bổ hạn ngạch tương đương khoảng 50% nhu cầu phát thải thực tế. Cá biệt, có doanh nghiệp phát thải khoảng 1 triệu tấn CO₂/năm nhưng hạn ngạch giai đoạn 2025–2026 chỉ được phân bổ khoảng 500.000–700.000 tấn.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia áp dụng cách tiếp cận dựa trên hệ số phát thải chuẩn (emission factor) của toàn ngành hoặc quốc gia, kết hợp dữ liệu sản lượng thực tế để dự báo và phân bổ hạn ngạch. Trong quá trình thực hiện, hạn ngạch cũng được điều chỉnh theo biến động sản lượng. "Mục tiêu không phải là giảm sản lượng, mà là giảm cường độ phát thải trên đơn vị sản phẩm”, ông Long nhấn mạnh và cho rằng khi sản lượng sản xuất tiếp tục tăng theo định hướng tăng trưởng kinh tế hai con số, cơ chế phân bổ hạn ngạch cần có sự điều chỉnh tương ứng, song hiện Việt Nam vẫn chưa có hệ số phát thải chuẩn thống nhất để áp dụng rộng rãi.

Bài toán công bằng giữa doanh nghiệp đi trước và doanh nghiệp đi sau

Một vấn đề khác được Hiệp hội Xi măng Việt Nam nêu ra là sự chênh lệch giữa các doanh nghiệp đã đầu tư sớm cho giảm phát thải và các doanh nghiệp mới chuyển đổi. Theo ông Long, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp liên doanh hoặc có vốn đầu tư nước ngoài, đã triển khai giải pháp giảm phát thải từ 10 năm trước, khiến cường độ phát thải hiện nay ở mức rất thấp. “Nếu áp dụng một tỷ lệ giảm chung cho tất cả doanh nghiệp sẽ thiếu công bằng. Có thể hình dung như một vận động viên đã nhảy được 1,6m thì rất khó nâng lên 1,8m trong thời gian ngắn, trong khi người mới chỉ đạt 1m lại có nhiều dư địa cải thiện hơn”, ông Long dẫn chứng.

Ông Long cho biết, Hiệp hội Xi măng Việt Nam sẽ phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu tổ chức các buổi làm việc chuyên sâu để tiếp tục trao đổi về cơ chế phân bổ hạn ngạch trong thời gian tới. “Giai đoạn hiện nay là bước khởi đầu nên khó tránh khỏi những bất cập, song cơ chế cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng vừa đáp ứng cam kết quốc tế, vừa bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh và mục tiêu tăng trưởng kinh tế”, ông Long chia sẻ.

Trả lời kiến nghị của doanh nghiệp, TS. Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ozon, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho hay, hiện có hai cách tiếp cận trong phân bổ hạn ngạch khí nhà kính. Thứ nhất là phương pháp dựa trên lịch sử phát thải, hiện đang được Việt Nam áp dụng trong giai đoạn thí điểm, sử dụng số liệu năm 2024 để phân bổ cho giai đoạn 2025–2026. Theo phương pháp này, việc phân bổ còn gắn với định hướng tăng trưởng của từng ngành: xi măng khoảng 10%/năm, sắt thép khoảng 19,6%, nhiệt điện ở mức thấp hơn, nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. “Chúng tôi không thể phân bổ theo đề xuất riêng lẻ của từng doanh nghiệp”, đại diện cơ quan quản lý nhấn mạnh.

Phương pháp thứ hai là phân bổ theo cường độ phát thải trên đơn vị sản phẩm, xu hướng đang được nhiều quốc gia áp dụng. Tuy nhiên, theo TS. Lương Quang Huy nếu áp dụng ngay tại Việt Nam sẽ tạo ra chênh lệch lớn giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có công nghệ hiện đại sẽ dễ đáp ứng, trong khi doanh nghiệp sử dụng công nghệ cũ sẽ gặp nhiều khó khăn trong ngắn hạn. “Không thể trong một năm yêu cầu tất cả doanh nghiệp thay đổi công nghệ để đạt cùng một mức cường độ phát thải”, đại diện cơ quan quản lý nêu rõ.

Hiện cường độ phát thải ngành xi măng vào khoảng 0,85 tấn CO₂/tấn xi măng và 0,92–0,93 tấn CO₂/tấn clinker, song có sự khác biệt đáng kể giữa các doanh nghiệp do trình độ công nghệ khác nhau. Các doanh nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại có mức phát thải thấp hơn đáng kể, trong khi những cơ sở sử dụng công nghệ cũ cần nhiều thời gian và nguồn lực để cải thiện. Điều này cũng tương tự đối với ngành sắt thép và đặc biệt là ngành nhiệt điện. Với nhiệt điện, dư địa giảm phát thải còn khó khăn hơn rất nhiều. Đồng quan điểm với Hiệp hội Xi măng Việt Nam, theo TS. Lương Quang Huy, chúng ta đều mong muốn đạt nhiều mục tiêu: Giảm phát thải, bảo vệ môi trường, bảo đảm hiệu quả sản xuất kinh doanh và duy trì tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc đáp ứng đồng thời tất cả các mục tiêu đó là bài toán rất khó, đòi hỏi phải có lộ trình và cơ chế phù hợp.

Phương pháp phân bổ theo cường độ phát thải trên đơn vị sản phẩm là cách tiếp cận mà nhiều quốc gia đang áp dụng. Tuy nhiên, nếu Việt Nam áp dụng ngay phương pháp này trong giai đoạn hiện nay sẽ tạo ra khoảng cách rất lớn giữa các doanh nghiệp. Có thể hình dung, nhóm doanh nghiệp “tiên phong” như những “học sinh giỏi” sẽ vượt qua tương đối thuận lợi, trong khi các doanh nghiệp ở mức “trung bình” hoặc còn hạn chế về công nghệ sẽ cần nhiều thời gian hơn để thích ứng. Việc đồng loạt đưa tất cả doanh nghiệp về cùng một mức cường độ phát thải trong thời gian ngắn là điều không khả thi nếu chưa có lộ trình chuyển đổi phù hợp.

TheoNguyễn Hạnh (Công Thương)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global