VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 3, 14/04/2026 | English | Vietnamese

Trang chủTin tổng hợpPhát huy vai trò của FDI trong giai đoạn phát triển mới

Phát huy vai trò của FDI trong giai đoạn phát triển mới

09:42:00 AM GMT+7Thứ 3, 14/04/2026

Khu vực FDI đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong hơn ba thập kỷ qua. Tuy nhiên, những hạn chế về chuyển giao công nghệ, liên kết doanh nghiệp và tỷ lệ nội địa hóa thấp đang đặt ra yêu cầu phải tái định vị vai trò của FDI, hướng tới thu hút dòng vốn thế hệ mới nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026–2030.

Trong hơn 35 năm qua, khu vực FDI đã đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Khu vực FDI đóng góp gần 355 tỷ USD cho đầu tư phát triển (lũy kế đến 31/3/2026), chiếm khoảng 20–25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; đóng góp trên 70% kim ngạch xuất khẩu và trên 20% thu ngân sách Nhà nước; tạo việc làm trực tiếp và gián tiếp cho hàng triệu lao động; góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Riêng năm 2025, khu vực FDI đóng góp khoảng 21% vào GDP, 38% thu ngân sách Nhà nước. Nhiều ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam hiện nay như chế biến chế tạo, điện tử, dầu khí, dệt may, da giày,… đều mang dấu ấn đậm nét của khu vực FDI.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận thẳng thắn về những hạn chế, bất cập đã được chỉ ra từ nhiều năm nay nhưng chậm được khắc phục. Đó là tỷ lệ nội địa hóa còn thấp; liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu; chuyển giao công nghệ chưa như kỳ vọng; một số dự án tiêu hao năng lượng lớn và sử dụng tài nguyên còn lãng phí.

Ngay cả những đóng góp tích cực của khu vực FDI cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nếu nhìn bằng một lăng kính khác thì cũng mang tính tiêu cực. FDI đóng góp lớn cho xuất khẩu, cũng có nghĩa là nền kinh tế đang phụ thuộc rất lớn vào FDI, thậm chí có ý kiến cho rằng FDI đã lấy mất thị trường nước ngoài của doanh nghiệp trong nước. FDI là động lực thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến chế tạo, nhưng nếu nhìn từ góc độ khác thì FDI đang nắm giữ toàn bộ các khâu then chốt trong chuỗi sản xuất công nghiệp quan trọng của Việt Nam.

Những hạn chế nêu trên của FDI đang đặt ra yêu cầu phải làm rõ nguyên nhân và có những chính sách giải pháp để sớm khắc phục. Đồng thời, trước những đánh giá trái chiều về vai trò FDI, cần xác định rõ quan điểm, nhận thức về khu vực kinh tế này để phát huy vai trò của FDI đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Những mặt hạn chế của FDI trong 35 năm qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chính yếu. Đó là thiếu công cụ pháp lý và đòn bẩy kinh tế để khuyến khích chuyển giao công nghệ; nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước;

Năng lực quản lý nhà nước về FDI còn hạn chế; các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) chưa đủ mạnh để các SME tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu; ngành công nghiệp phụ trợ chậm phát triển, chưa tạo được hệ sinh thái để liên kết doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa.

Đối với những đánh giá tiêu cực về FDI khi khu vực này chiếm tới trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, hay chiếm lĩnh gần như toàn bộ các khâu then chốt của ngành công nghiệp chế biến chế tạo, cần làm rõ các vấn đề như:

-         Nếu doanh nghiệp FDI không xuất khẩu mỗi năm hàng trăm tỷ USD ra thị trường nước ngoài thì liệu doanh nghiệp Việt Nam có chiếm lĩnh được thị trường này không? Câu trả lời có lẽ là không hoặc chỉ một phần rất nhỏ, bởi doanh nghiệp FDI xuất khẩu được là nhờ họ có sản phẩm chất lượng, giá cả cạnh tranh và đã có sẵn mạng lưới phân phối, thị trường nước ngoài trước khi vào Việt Nam, còn doanh nghiệp nội địa thì ngược lại.

-         Nếu không có nguồn thu từ xuất khẩu rất lớn của khu vực FDI (năm 2025 là 362 tỷ USD, kể cả dầu thô) và nếu khu vực FDI không tạo ra được xuất siêu gần 50 tỷ USD để bù đắp cho nhập siêu gần 30 tỷ USD của khu vực doanh nghiệp trong nước thì cán cân thương mại và cán cân thanh toán của Việt Nam sẽ ra sao và sẽ tác thế nào tới kinh tế vĩ mô?

Mặc dù còn những mặt hạn chế, nhưng cần khẳng định rằng, FDI là một hình thức đầu tư quốc tế lâu dài, vừa bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, vừa giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hội nhập quốc tế và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Chính vì vậy, cạnh tranh thu hút FDI đã và đang diễn ra tại hầu hết các nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, trong tiến trình đổi mới, hội nhập quốc tế, Đảng ta đã xác định: Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.

Vấn đề đặt ra là phải kịp thời có cơ chế chính sách và giải pháp để hạn chế mặt trái của FDI, thu hút được dòng vốn FDI thế hệ mới, chất lượng cao, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% giai đoạn 2026 - 2030 đang đòi hỏi phải vừa phát huy mạnh mẽ nội lực vừa tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài, trong đó nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng. Trong khi xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”, và kinh tế Nhà nước phải phát huy vai trò then chốt trong các lĩnh vực nền tảng, chiến lược, và các không gian công nghệ có ý nghĩa đối với an ninh kinh tế quốc gia, thì kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng cần được đặt đúng vị trí để cùng tạo động lực mạnh mẽ cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững. Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới phải dựa trên động lực chính là năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều đó không có nghĩa là vốn đầu tư không còn quan trọng, mà vấn đề là phải nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư.

Để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng GDP trên 10%/ năm đòi hỏi phải huy động được nguồn vốn rất lớn cả trong nước và nước ngoài. Theo ước tính của nhóm nghiên cứu Báo cáo thường niên về FDI năm 2025 của VAFIE, trong giai đoạn 2026 – 2030 trung bình mỗi năm Việt Nam cần thu hút khoảng 45-50 tỷ USD vốn FDI đăng ký và khoảng 35-40 tỷ USD vốn FDI thực hiện để bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Đương nhiên đó phải là nguồn vốn FDI thế hệ mới được khuyến khích chảy vào những ngành công nghiệp tiên tiến, hiện đại, gắn với chiến lược tăng trưởng xanh, kinh tế số và có tác động lan tỏa tới toàn nền kinh tế.

Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và những diễn biến phức tạp của địa chính trị thế giới, Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn trong việc thu hút FDI chất lượng cao. Ngoài thách thức truyền thống, những thách thức mới nổi lên là áp lực cạnh tranh thu hút FDI chất lượng cao ngày càng gay gắt, Việt Nam đang phải cạnh tranh trực tiếp với các nước trong khu vực như Indonesia, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan - những nước có quy mô thị trường lớn hơn, hoặc năng lực đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái công nghệ tốt hơn, thể chế minh bạch hoàn thiện hơn, nhất là trong các lĩnh vực mới như kinh tế số, fintech, tài sản số…

Việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) làm giảm hiệu quả chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp FDI. Ngoài ra, yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững cũng đặt ra những thách thức mới.

Tuy nhiên Việt Nam cũng đang có những lợi thế để thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới. Đó là ổn định chính trị, vị trí địa lý thuận lợi, có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với các cường quốc kinh tế, có mạng lưới FTA rộng lớn, có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng…

Mặc dù khả năng thu hút FDI là khá lớn, nhưng khả năng hấp thụ FDI của Việt Nam còn hạn chế do chất lượng nguồn nhân lực (thiếu hụt kỹ sư công nghệ cao, chuyên gia bán dẫn, AI), nguy cơ thiếu điện, nhất là điện sạch, chi phí logistic cao, cải cách thủ tục hành chính chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhà đầu tư…

Trong bối cảnh bất ổn địa chính trị, bao gồm xung đột tại Trung Đông, đang có xu hướng dịch chuyển dòng vốn tài chính, nhân tài công nghệ, giới siêu giàu. Việt Nam chưa phải là lựa chọn của xu hướng chuyển dịch nói trên do còn thiếu hệ sinh thái tài chính quốc tế, chính sách cư trú chưa linh hoạt, môi trường sống quốc tế hóa còn hạn chế. Tuy nhiên, nếu có chính sách đột phá về visa, môi trường sống và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nhất là sớm vận hành các trung tâm tài chính quốc tế và hình thành các khu kinh tế, khu thương mại tự do, Việt Nam vẫn có cơ hội thu hút dòng tài chính và nhân tài, chuyên gia công nghệ từ bên ngoài.

Để nền kinh tế cất cánh thành công phải xây dựng được các doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế đủ mạnh để đóng vai trò dẫn dắt. NQ 68 – NQ/TW đặt ra mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; NQ 79 – NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp Nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á. Việt Nam đã có các “đại bàng” FDI và sẽ có thêm những “đại bàng” mới. Câu hỏi mang tính thời sự đang được đặt ra là làm gì và làm thế nào để các “đại bàng” này tham gia vào lực lượng dẫn dắt, kết nối doanh nghiệp vệ tinh trong nước, lan tỏa chuẩn mực về quản trị, đổi mới sáng tạo và năng suất? Làm gì và làm thế nào để chúng ta không chỉ thu hút “đại bàng”, mà phải để đàn chim nội địa bay cùng “đại bàng” FDI?

Một số khuyến nghị

Để tăng cường thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới, chất lượng cao và để tăng tính kết nối doanh nghiệp FDI với khu vực doanh nghiệp trong nước, cần:

Thứ nhất, khẩn trương hoàn thiện khung khổ pháp lý, nhất là đối với lĩnh vực kinh tế số, fintech, trung tâm tài chính quốc tế; áp dụng thí điểm các cơ chế đột phá; bổ sung các quy định pháp lý để tạo chế tài và đòn bẩy tài chính nhằm khuyến khích chuyển giao công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tạo điều kiện để các doanh nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI.

Thứ hai, triển khai sớm các giải pháp ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, sớm vận hành Quỹ hỗ trợ đầu tư theo NĐ 182/2024 – NĐ/CP của Chính phủ.

Thứ ba, khẩn trương nâng cấp kết cấu hạ tầng, nhất là năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp công nghệ cao; phát triển hạ tầng số, nhất là các trung tâm dữ liệu lớn.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua mô hình liên kết 3 nhà (Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp), thu hút nhân tài là người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài thông qua chính sách visa tài năng dài hạn, ưu đãi thuế thu nhập cá nhân…

Thứ năm, cần triển khai sớm các chương trình hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực của các doanh nghiệp nội địa, nhất là các SME để có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, triển khai các chương trình phát triển nhà cung cấp với sự tham gia của Chính phủ, các hiệp hội doanh nghiệp và các tập đoàn đa quốc gia.

Cuối cùng nhưng hết sức quan trọng là phải hành động, hành động kịp thời và có hiệu quả, hành động để sớm thể chế hóa và đưa các Nghị quyết của Bộ Chính trị vào cuộc sống. Cần có chế tài xử lý nghiêm khắc mọi sự chậm trễ, những hành vi nhũng nhiễu, vô cảm trước những bức xúc của doanh nghiệp, làm mất đi cơ hội thu hút, khơi dậy các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

(*) TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE)

Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế"

Nhằm tạo diễn đàn để các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia và cộng đồng doanh nhân cùng nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi Mới, đánh giá vai trò dẫn dắt và khuyến nghị chính sách phát triển mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế, ngày 13/4 tại Hà Nội, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế".

Hội thảo có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các Bộ, Ban, Ngành Trung ương, hiệp hội, các chuyên gia kinh tế - tài chính - pháp luật, lãnh đạo các ngân hàng thương mại, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp trong nước.

Sự kiện được tường thuật trên Tạp chí điện tử Nhadautu.vn và ấn phẩm tiếng Anh Theinvestor.vn.

TheoTS. NGUYỄN ANH TUẤN (*) / Tạp chí điện tử Nhà đầu tư
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global