Thứ 4, 30/09/2026 | English | Vietnamese
03:30:00 PM GMT+7Thứ 4, 30/09/2026
Trong những giai đoạn mang tính bước ngoặt, đột phá về phát triển của mỗi quốc gia chỉ có thể được hiện thực hóa trên nền tảng đột phá tương ứng về thể chế. Thực tiễn triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW(1) cho thấy việc xây dựng và thực thi cơ chế, chính sách đặc thù là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong xử lý vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ để chuyển hóa chủ trương của Đảng thành kết quả trong thực tiễn. Đây cũng là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
![]() |
| Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Hội nghị đại biểu Quốc hội Khóa XVI tiếp xúc cử tri tại xã Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN |
Mỗi giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt đều đặt ra yêu cầu có quyết sách mang tính đột phá. Khi mục tiêu phát triển vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường, cơ chế, chính sách cũng cần được thiết kế theo cách tiếp cận đặc biệt để tạo không gian cho đổi mới, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy hành động. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, những cuộc cải cách lớn chỉ thành công khi đi cùng với cơ chế đủ mạnh, linh hoạt và phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ.
Đối với Việt Nam, việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW là một minh chứng sinh động. Đây không chỉ là sắp xếp về tổ chức, mà còn là quá trình xây dựng và triển khai đồng bộ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù trong giai đoạn, thời điểm đặc biệt gắn với yêu cầu phát triển đất nước. Nhiều vấn đề chưa có tiền lệ đã được xử lý thông qua quyết sách kịp thời, cơ chế linh hoạt và sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng thể chế, năng lực quản trị quốc gia và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, kinh nghiệm thực tiễn mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi sắp xếp tổ chức bộ máy đơn thuần. Đây là một trường hợp điển hình cho thấy vai trò quyết định của thể chế, cơ chế, chính sách trong việc chuyển hóa chủ trương thành hành động, chuyển hóa quyết tâm chính trị thành kết quả thực tiễn.
Thực tiễn triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW không chỉ cung cấp bài học có giá trị đối với quá trình đổi mới tổ chức bộ máy, mà còn gợi mở nhiều vấn đề quan trọng về xây dựng và thực thi cơ chế, chính sách trong tình huống đặc biệt, góp phần hoàn thiện năng lực kiến tạo thể chế, nâng cao chất lượng quản trị đất nước và đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.
Kỷ nguyên mới và yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù
![]() |
| Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà trao đổi với lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh và phường Thành Sen về hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp. Ảnh: TTXVN |
Lịch sử phát triển của các quốc gia cho thấy, mỗi giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt đều gắn với đột phá về thể chế. Khi yêu cầu phát triển vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường, cơ chế quản lý hiện tại không còn đủ khả năng tạo động lực cho đổi mới và phát triển. Trong những thời điểm như vậy, việc xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù không chỉ là lựa chọn về quản lý, mà trở thành yêu cầu của phát triển.
Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam đứng trước mục tiêu chiến lược rất lớn: đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Cùng với đó là yêu cầu tạo ra đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các quốc gia, lợi thế phát triển không còn được quyết định bởi nguồn lực tự nhiên hay quy mô thị trường, mà được quyết định bởi chất lượng thể chế, năng lực quản trị và khả năng phản ứng chính sách.
Muốn tạo ra đột phá về phát triển, trước hết phải tạo ra đột phá tương ứng về thể chế; muốn giải quyết nhiệm vụ đặc biệt phải có cơ chế, chính sách đặc thù tương ứng. Thực tiễn quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW, nhiều cơ chế, chính sách đặc thù đã được xây dựng, hoàn thiện và triển khai đồng bộ để giải quyết nhiệm vụ đặc biệt trong giai đoạn phát triển đặc biệt của đất nước. Từ đó, có thể rút ra nhiều nhận thức và kinh nghiệm quan trọng về xây dựng cơ chế, chính sách trong những giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt. Đây cũng là gợi mở có ý nghĩa đối với quá trình tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển, đổi mới quản trị đất nước và nâng cao năng lực kiến tạo phát triển trong kỷ nguyên mới.
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW: Điển hình về xây dựng là triển khai cơ chế, chính sách đặc thù
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW mang tính toàn diện đối với toàn hệ thống chính trị. Đây không chỉ là việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy, mà là quá trình đổi mới đồng bộ toàn hệ thống chính trị: các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan tư pháp..., chính quyền địa phương, lực lượng vũ trang. Quy mô, phạm vi tác động rộng lớn cùng nhiều nội dung mới, khó và chưa có tiền lệ đã đặt ra yêu cầu xây dựng và triển khai đồng bộ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù. Chính cơ chế, chính sách này đã góp phần quyết định chuyển hóa chủ trương của Đảng thành kết quả hiện hữu ngày hôm nay.
Một là, thiết lập cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo đặc thù đối với nhiệm vụ đặc biệt, trong giai đoạn, thời điểm đặc biệt.
Nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thành công của việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và xuyên suốt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư. Trên cơ sở tổng kết sớm Nghị quyết số 18-NQ/TW, Trung ương đã tổ chức các hội nghị Trung ương chuyên đề, ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, quy định quan trọng; Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường xuyên cho ý kiến chỉ đạo, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện(2).
Công tác quán triệt, triển khai được tổ chức với quy mô rất lớn, kết nối khoảng 14.500 điểm cầu trên toàn quốc với hơn 1,3 triệu cán bộ, đảng viên tham dự. Việc thực hiện được triển khai đồng bộ theo phương châm “vừa chạy vừa xếp hàng”, bảo đảm sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị.
Toàn bộ quá trình triển khai thực hiện được đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, trực tiếp và thường xuyên của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; đồng thời, thiết lập cơ chế điều phối liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị để xử lý kịp thời vấn đề mới phát sinh. Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm sự thống nhất về nhận thức, hành động và tạo điều kiện để triển khai đồng bộ nhiệm vụ có phạm vi tác động rộng, nhiều nội dung mới, khó.
Hai là, thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh và thể chế hóa đồng bộ đối với vấn đề chưa có tiền lệ.
Thực tiễn cho thấy, thể chế đã thực sự đi trước một bước, mở đường cho cải cách. Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013; Chính phủ đã rà soát 5.076 văn bản quy phạm pháp luật để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo yêu cầu phân cấp, phân quyền gắn với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; riêng tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua 34 luật, nghị quyết; Chính phủ ban hành 120 nghị định, nghị quyết quy phạm pháp luật, trong đó có 28 nghị định chuyên đề về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; các bộ, ngành ban hành 66 thông tư nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho mô hình tổ chức mới.
Điểm đặc thù của cơ chế này là quá trình xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện thể chế được tiến hành đồng thời với quá trình tổ chức thực hiện, cho phép xử lý nhanh vấn đề phát sinh từ thực tiễn, bảo đảm cơ sở pháp lý để bộ máy mới vận hành thông suốt, không tạo khoảng trống pháp lý, không làm gián đoạn hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là minh chứng rõ nét cho năng lực phản ứng chính sách nhanh của hệ thống chính trị trước yêu cầu cải cách chưa có tiền lệ.
Ba là, thực hiện cấu trúc lại toàn diện hệ thống chính trị gắn với định hình lại không gian phát triển quốc gia.
Đây là cuộc sắp xếp có quy mô lớn nhất từ trước đến nay đối với toàn hệ thống chính trị. Ở Trung ương, đã giảm 4 cơ quan Đảng trực thuộc Trung ương; kết thúc hoạt động của 25 ban cán sự đảng, 16 đảng đoàn; cơ cấu tổ chức của Quốc hội tiếp tục được kiện toàn, giảm khoảng 37,5% số cơ quan thuộc Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; cơ cấu Chính phủ được sắp xếp còn 14 bộ và 3 cơ quan ngang bộ. Ở địa phương, sau sắp xếp cả nước còn 34 tỉnh, thành phố; giảm khoảng 66,91% số đơn vị hành chính cấp xã và kết thúc hoạt động của 696 đơn vị hành chính cấp huyện.
Đây không chỉ là sự thay đổi về tổ chức bộ máy hay địa giới hành chính, mà còn tạo lập không gian phát triển mới, tăng cường liên kết vùng, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tạo điều kiện để phát huy tốt hơn tiềm năng, lợi thế của từng địa phương và của cả nước.
Bốn là, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả.
Cùng với sắp xếp tổ chức bộ máy, việc phân cấp, phân quyền được triển khai mạnh mẽ theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Đến thời điểm hiện nay, đã phân cấp cho chính quyền địa phương 1.461 nhiệm vụ, trong đó cấp tỉnh 1.382 nhiệm vụ; cấp xã 79 nhiệm vụ.
Giai đoạn 2021 - 2025, đã thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa 4.533 thủ tục hành chính và điều kiện. Từ tháng 4-2026 đến nay, với việc ban hành 11 nghị quyết và 16 thông tư, Chính phủ đã chỉ đạo phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa 3.486 thủ tục hành chính và đăng ký kinh doanh (gồm phân cấp 362 thủ tục hành chính cho địa phương, cắt giảm 697 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 673 thủ tục hành chính và cắt giảm 1.754 đăng ký kinh doanh); giúp giảm thêm 23 nghìn tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm.
Đây không chỉ là sự điều chỉnh về thẩm quyền quản lý hành chính, mà là bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị phát triển, phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương, đồng thời nâng cao chất lượng quản trị đất nước và quản trị địa phương trong điều kiện phát triển mới.
Năm là, đổi mới quản trị đất nước và quản trị địa phương trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số được triển khai đồng thời không chỉ làm thay đổi cấu trúc của hệ thống chính trị, mà còn từng bước thay đổi phương thức vận hành của bộ máy nhà nước theo hướng kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Đây là cơ sở để tạo lập nền tảng cho quá trình chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị quốc gia hiện đại.
Bên cạnh đó, việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, về “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đã tạo động lực mới cho quá trình đổi mới phương thức quản lý, điều hành và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước. Hạ tầng số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số đang từng bước trở thành hạ tầng vận hành của bộ máy mới, góp phần nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống chính trị.
Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị; từ mô hình hành chính nhiều tầng nấc sang mô hình điều hành dựa trên dữ liệu và kết quả; từ quản lý theo thẩm quyền sang phục vụ theo nhu cầu của người dân và doanh nghiệp; đặt nền móng cho sự chuyển đổi từ nền hành chính chủ yếu thực hiện chức năng quản lý sang nền quản trị quốc gia hiện đại lấy kiến tạo phát triển làm trọng tâm, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ và lấy sự phát triển đất nước cùng hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu.
Sáu là, ban hành và triển khai chính sách đặc thù đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nhằm tạo đồng thuận xã hội.
Một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm thành công của cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn bộ máy là việc giải quyết kịp thời, đầy đủ chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động chịu tác động của quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Trong bối cảnh được triển khai trên quy mô lớn, việc ban hành và thực hiện đồng bộ chính sách hỗ trợ để góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tinh gọn bộ máy với việc bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Điều này không chỉ giúp ổn định tổ chức, tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai, mà còn thể hiện rõ tính nhân văn của chủ trương cải cách.
Nhìn tổng thể, việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW là quá trình xây dựng và triển khai đồng bộ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù để giải quyết vấn đề mới, khó và chưa có tiền lệ. Điều đó cho thấy, trong những giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, chất lượng thể chế, năng lực phản ứng chính sách và khả năng tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả của cải cách và phát triển. Đây cũng chính là cơ sở thực tiễn quan trọng, từ đó rút ra nhận thức mới về xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù trong điều kiện phát triển mới của đất nước.
Nhận thức mới về xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù từ thực tiễn việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị
![]() |
| Lãnh đạo Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Tân Minh, Hải Phòng, trực tiếp chia sẻ thông tin với người dân trên môi trường số. Ảnh: TTXVN |
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW là một cuộc thử nghiệm thể chế quy mô lớn, qua đó kiểm nghiệm năng lực kiến tạo và thực thi chính sách của hệ thống chính trị trong những điều kiện đặc biệt. Từ thực tiễn đó, có thể rút ra một số nhận thức quan trọng về xây dựng cơ chế, chính sách đối với nhiệm vụ chiến lược và những giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt của đất nước.
Thứ nhất, trong những giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, thể chế phải đi trước một bước để mở đường cho phát triển.
Thực tiễn cho thấy, những nhiệm vụ cải cách có quy mô lớn, phạm vi tác động rộng và liên quan đến nhiều thực thể không thể thành công nếu thiếu đột phá về thể chế. Từ việc hoàn thiện cơ sở chính trị, pháp lý đến việc thiết kế mô hình tổ chức, cơ chế vận hành và phân định thẩm quyền phải được chuẩn bị đồng bộ, kịp thời và đi trước quá trình tổ chức thực hiện. Điều đó khẳng định một yêu cầu có tính nguyên tắc: trong những thời điểm mang tính bước ngoặt, thể chế không chỉ thực hiện chức năng quản lý, mà phải thực sự trở thành công cụ mở đường, dẫn dắt và kiến tạo phát triển. Đột phá về phát triển chỉ có thể được hiện thực hóa trên nền tảng đột phá tương ứng về thể chế.
Thứ hai, nhiệm vụ chưa có tiền lệ đòi hỏi cơ chế, chính sách chưa có tiền lệ.
Điểm đặc biệt của việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW là nhiều nội dung chưa từng có trong thực tiễn quản lý nhà nước và tổ chức bộ máy ở nước ta. Việc kết thúc hoạt động của một số mô hình tổ chức, tổ chức lại đơn vị hành chính trên quy mô lớn, chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương hay thực hiện phân cấp, phân quyền sâu rộng đều đặt ra yêu cầu mới đối với công tác xây dựng chính sách.
Đối với nhiệm vụ mang tính đột phá, việc áp dụng máy móc các cơ chế thông thường thường khó tạo ra chuyển biến thực chất. Điều cần thiết là có cơ chế đủ linh hoạt, đủ mạnh và đủ khả năng xử lý vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn. Đây cũng là lý do vì sao xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù cần được nhìn nhận như một phương thức thể chế quan trọng để giải quyết những vấn đề phát triển mới của đất nước.
Thứ ba, đổi mới tổ chức bộ máy thực chất là đổi mới phương thức quản trị quốc gia.
Giá trị lớn nhất của việc sắp xếp tổ chức bộ máy là tạo nền tảng cho quá trình đổi mới quản trị đất nước và quản trị địa phương. Việc xác lập lại chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; đổi mới phương thức phối hợp và ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng quản trị và hiệu quả phục vụ.
Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại; từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; từ tập trung vào quy trình sang tập trung vào kết quả và giá trị mang lại cho người dân, doanh nghiệp. Trong bối cảnh phát triển mới, chất lượng quản trị đất nước và quản trị địa phương ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và hiệu quả phát triển của quốc gia.
Thứ tư, năng lực kiến tạo thể chế và năng lực quản trị ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Bước vào kỷ nguyên mới, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ là cạnh tranh về nguồn lực, thị trường hay trình độ công nghệ, mà còn là cạnh tranh về chất lượng thể chế, chất lượng quản trị và tốc độ phản ứng chính sách. Quốc gia nào xây dựng được cơ chế phù hợp hơn, tháo gỡ được điểm nghẽn nhanh hơn và tổ chức thực hiện hiệu quả hơn sẽ có nhiều cơ hội hơn để nắm bắt thời cơ phát triển.
Thực tiễn việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW đã khẳng định: thể chế phải đi trước mở đường cho phát triển; nhiệm vụ chưa có tiền lệ đòi hỏi cơ chế, chính sách phù hợp, có tính đột phá; đổi mới tổ chức bộ máy thực chất là đổi mới phương thức quản trị quốc gia và năng lực kiến tạo thể chế, năng lực quản trị ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Đây không chỉ là bài học từ cuộc cải cách tổ chức bộ máy, mà còn là gợi mở quan trọng cho quá trình hoàn thiện thể chế phát triển và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại trong kỷ nguyên mới.
Một số kinh nghiệm khi xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù trong giai đoạn phát triển mới của đất nước
Một là, sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt của Đảng là nhân tố quyết định thành công của cơ chế, chính sách đặc thù.
Nhiệm vụ có phạm vi tác động rộng, liên quan đến nhiều chủ thể và nhiều cấp, nhiều ngành chỉ có thể được triển khai hiệu quả khi có sự lãnh đạo tập trung, thống nhất và xuyên suốt của Đảng. Đây không chỉ là yêu cầu bảo đảm sự thống nhất về mục tiêu, định hướng phát triển, mà còn là điều kiện quan trọng để huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc tổ chức thực hiện.
Thời gian tới, đối với nhiệm vụ chiến lược, như phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược, hình thành cực tăng trưởng mới hay thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao..., cần tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc định hướng, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát quá trình triển khai cơ chế, chính sách đặc thù.
Hai là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng thể chế, bảo đảm thể chế thực sự đi trước mở đường cho phát triển.
Trong bối cảnh yêu cầu phát triển mới xuất hiện ngày càng nhanh, quá trình xây dựng chính sách cần chuyển mạnh từ tư duy phản ứng sang tư duy chủ động kiến tạo. Thể chế không chỉ giải quyết vấn đề đã phát sinh mà cần dự báo, dẫn dắt và tạo không gian cho động lực phát triển mới.
Đối với lĩnh vực mới, vấn đề chưa có tiền lệ hoặc nhiệm vụ có tính chiến lược quốc gia, cần mạnh dạn nghiên cứu, thí điểm và áp dụng các cơ chế phù hợp, bảo đảm vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, vừa kiểm soát hiệu quả rủi ro có thể phát sinh. Tinh thần chung là không để thể chế trở thành điểm nghẽn của phát triển.
Ba là, lấy đổi mới quản trị đất nước và quản trị địa phương làm mục tiêu xuyên suốt của cải cách.
Việc xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù không nên chỉ hướng tới giải quyết khó khăn trước mắt, mà cần hướng tới mục tiêu dài hạn là nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và quản trị địa phương. Mọi cải cách về tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính hay chuyển đổi số cuối cùng đều phải được đánh giá bằng khả năng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Trong điều kiện phát triển mới, cần tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị hiện đại theo hướng phân định rõ trách nhiệm, tăng cường trách nhiệm giải trình, nâng cao tính chủ động của địa phương và phát huy mạnh mẽ vai trò của các thực thể trong xã hội.
Bốn là, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực thực thi.
Thực tiễn cho thấy, phân cấp, phân quyền chỉ phát huy hiệu quả khi đi đôi với cơ chế kiểm soát phù hợp, bảo đảm nguồn lực thực hiện và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ. Việc giao thêm thẩm quyền phải đi cùng với trách nhiệm giải trình rõ ràng; giao nhiệm vụ phải đi cùng với điều kiện bảo đảm thực hiện.
Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đang được triển khai trên phạm vi cả nước, đồng thời cũng là điều kiện để khơi thông nguồn lực, phát huy tính chủ động, sáng tạo và nâng cao hiệu quả quản trị ở từng địa phương.
Năm là, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng của mô hình quản trị hiện đại, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước và hạnh phúc của nhân dân.
Bước vào kỷ nguyên mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là động lực tăng trưởng, mà còn là phương thức đổi mới quản trị quốc gia. Việc xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù cần gắn chặt với quá trình phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, tạo điều kiện để nâng cao chất lượng quản trị và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Mục tiêu cuối cùng của mọi cơ chế, chính sách đặc thù là khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Gợi mở từ thực tiễn việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW cho thấy, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới không chỉ là tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để xử lý vấn đề cụ thể, mà sâu xa hơn là không ngừng nâng cao năng lực kiến tạo thể chế, năng lực quản trị đất nước và quản trị địa phương, năng lực tổ chức thực hiện và khả năng thích ứng trước yêu cầu phát triển mới.
Từ kết quả việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW cho thấy, trong những giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, thành công của cải cách không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực hay điều kiện khách quan, mà trước hết phụ thuộc vào năng lực kiến tạo thể chế và khả năng tổ chức thực hiện. Đối với nhiệm vụ có quy mô lớn, phạm vi tác động rộng và nhiều nội dung chưa có tiền lệ, việc xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp có ý nghĩa quyết định trong việc chuyển hóa chủ trương thành hành động, chuyển hóa quyết tâm chính trị thành kết quả phát triển.
PHẠM THỊ THANH TRÀ
Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ
-------------
(1) Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”
(2) Kết luận số 121-KL/TW, ngày 24-01-2025, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW; kết luận số 126-KL/TW, ngày 14-02-2025, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, về “Một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025”; Kết luận số 127-KL/TW, ngày 28-02-2025, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, “Về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”; Kết luận số 130-KL/TW, ngày 14-3-2025, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, “Về chủ trương sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp (cấp tỉnh và cấp cơ sở, không tổ chức cấp huyện)”; Kết luận số 137-KL/TW, ngày 28-3-2025, của Bộ Chính trị, về “Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp”; Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12-4-2025, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global