Thứ 6, 06/02/2026 | English | Vietnamese
09:54:00 AM GMT+7Thứ 6, 06/02/2026
Báo cáo tài chính quý IV/2025 vừa được công bố cho thấy bức tranh kết quả kinh doanh tích cực từ các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, kết quả kinh doanh của các ngân hàng có sự phân hóa lớn dựa trên đặc điểm phân bổ dòng vốn tín dụng trong năm qua.
Năm 2025 đánh dấu giai đoạn tín dụng tiếp tục được thúc đẩy trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp suốt thời gian dài. Nhờ đó, dư nợ toàn hệ thống ngân hàng mở rộng nhanh, góp phần duy trì nhịp độ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc giữ lãi suất ở mức thấp để kích thích giải ngân tín dụng khiến biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng tiếp tục chịu áp lực thu hẹp.
Tăng trưởng tín dụng dù diễn ra đồng bộ hơn ở các ngân hàng nhưng chất lượng hiệu quả của tín dụng trong mối tương quan với NIM là chìa khóa chính quyết định hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng. Trong điều kiện đó thì một yếu tố nổi lên đóng vai trò rất quan trọng để tạo nên sự khác biệt: Sự hỗ trợ của các hệ sinh thái.
Việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng đã tạo ra tác động hai chiều rõ nét lên NIM của hệ thống ngân hàng. Một mặt, lãi suất huy động được giữ ở mức thấp và tương đối ổn định, qua đó hỗ trợ kiểm soát chi phí vốn. Mặt khác, lãi suất cho vay cũng neo ở mức thấp để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế, khiến dư địa mở rộng biên lãi đầu ra bị thu hẹp. Sự giằng co giữa hai yếu tố này định hình xu hướng NIM trong giai đoạn vừa qua.
Thực tế cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay đã bước vào giai đoạn ổn định sau chu kỳ giảm sâu. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân cuối năm 2023 dao động trong khoảng 8,3 - 10,5%/năm, giảm xuống 6,7 - 9,0%/năm vào cuối năm 2024 và tiếp tục được duy trì trong vùng này đến cuối năm 2025. Đáng chú ý, trong giai đoạn quý II - quý III/2025, lãi suất cho vay ghi nhận mức giảm mạnh hơn, lùi về khoảng 6,5 - 8,8%/năm. Diễn biến này cho thấy lãi suất cho vay nhiều khả năng đã chạm vùng đáy và đang từng bước điều chỉnh tăng trở lại với biên độ vừa phải, qua đó góp phần giảm bớt áp lực từ phía lợi suất đầu ra lên NIM.
Ở chiều ngược lại, lãi suất huy động đang trở thành biến số đáng chú ý hơn trong bài toán NIM. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng hệ thống ở mức 15% trong năm tới, trong khi tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) tăng nhanh, áp lực cân đối nguồn vốn tại các ngân hàng ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó, việc điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi trở thành lựa chọn khả dĩ. Điều này đồng nghĩa với áp lực gia tăng từ phía chi phí vốn (COF), qua đó đặt ra thách thức lớn cho các ngân hàng trong việc duy trì NIM trong những tháng cuối năm 2025 và cả năm tới.
Theo các báo cáo tài chính quý IV của các ngân hàng, NIM toàn ngành chỉ đạt 3,03%, thấp hơn đáng kể so với mức 3,36% của cùng kỳ năm trước, kéo xu hướng giảm đều trong 3 năm qua. Trong bối cảnh chung, các ngân hàng quy mô lớn ghi nhận mức giảm tương đối mạnh trong kỳ, với biên độ ngày càng mạnh hơn từ 0,3% đến 0,5% so với cuối năm 2024, trong khi nhóm ngân hàng nhỏ hơn có NIM nhích lên trong giai đoạn cuối năm.
Về số liệu cụ thể, nhóm ngân hàng quốc doanh ghi nhận NIM chỉ còn 2,40% trong quý IV/2025, thấp hơn mức 2.68% cuối năm 2024. Dù lãi suất thấp giúp các ngân hàng quốc doanh duy trì chi phí vốn thấp, tuy nhiên do lãi suất đầu ra giảm để kích thích tăng trưởng quy mô lớn làm NIM chịu áp lực điều chỉnh liên tục.
Nhóm các ngân hàng bán lẻ là nhóm chịu tác động mạnh nhất về NIM, giảm từ 4,26% cuối năm 2024 xuống 3,74% trong quý IV/2025, tương đương mức giảm hơn 0,5% so với cùng kỳ và thấp hơn mức 3,87% của quý III/2025. Diễn biến này gắn liền với sự dịch chuyển trong cơ cấu danh mục cho vay, theo hướng giảm tỷ trọng cho vay cá nhân (chủ yếu là tín dụng tiêu dùng) và gia tăng cho vay doanh nghiệp vừa và lớn. Nhóm các ngân hàng bán buôn cũng có mức NIM sụt giảm để đẩy mạnh tín dụng nhưng với mức NIM giảm ít hơn, từ 4,05% xuống 3,61%.
Nếu nhìn vào bức tranh chung của ngành ngân hàng trong giai đoạn hiện tại, có thể thấy NIM đang là gánh nặng lớn trong việc duy trì tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng. Khi mặt bằng lãi suất cho vay chịu áp lực giảm và cạnh tranh lãi suất huy động ngày càng gia tăng, mô hình tăng trưởng dựa thuần vào chênh lệch lãi suất dần bộc lộ những giới hạn. Chính trong bối cảnh đó, sự khác biệt giữa các ngân hàng không còn nằm ở quy mô tín dụng hay tốc độ mở rộng dư nợ, mà chuyển dịch sang chất lượng hệ sinh thái khách hàng và khả năng đa dạng hóa nguồn thu.
Trong bối cảnh NIM toàn ngành suy giảm mạnh ở hầu hết các ngân hàng lớn, nhóm ngân hàng bán lẻ là nhóm chịu tác động rõ rệt nhất khi danh mục cho vay tập trung lớn vào khách hàng cá nhân, phân khúc chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tiêu dùng chưa phục hồi rõ nét trong khi tăng trưởng tín dụng thấp hơn so với các nhóm ngân hàng khác.
Dữ liệu cho thấy, ngoại trừ VPB, hầu hết các ngân hàng bán lẻ đều ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận thấp hoặc suy giảm trong năm 2025, đi kèm với mức thu hẹp NIM mạnh nhất trong toàn ngành.
Cụ thể, NIM của ACB giảm tới 0,73 điểm %, VIB giảm 0,73 điểm %, TPB giảm 0,46 điểm %, trong khi lợi nhuận ACB giảm 7% và VIB chỉ tăng trưởng 1%. Điều này phản ánh thực tế rằng việc đẩy mạnh cho vay bán lẻ trong bối cảnh cầu tín dụng yếu và cạnh tranh lãi suất gay gắt không còn mang lại hiệu quả sinh lời như giai đoạn trước, buộc các ngân hàng phải đẩy mạnh sang các phân khúc doanh nghiệp để hỗ trợ tăng trưởng.
Trái ngược với phần còn lại của nhóm bán lẻ, các ngân hàng sở hữu hệ sinh thái tài chính - tiêu dùng lớn như VPB, MBB và TCB lại cho thấy khả năng chống chịu vượt trội trong bối cảnh NIM suy giảm. VPB dù NIM giảm 0,55 điểm % vẫn ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận lên tới 53%, cao nhất toàn ngành.
Điểm khác biệt của VPB nằm ở việc ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào hoạt động cho vay truyền thống mà còn sở hữu một hệ sinh thái tài chính tương đối mạnh mẽ, bao gồm tài chính tiêu dùng, chứng khoán, bảo hiểm và các nền tảng dịch vụ số. Hệ sinh thái này cho phép VPB mở rộng tệp khách hàng, tăng cường bán chéo sản phẩm và gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi, qua đó giảm mức độ phụ thuộc vào NIM.
Tương tự, MBB và TCB trong nhóm ngân hàng doanh nghiệp cũng duy trì mức tăng trưởng lợi nhuận lần lượt là 19% và 18% dù NIM giảm tương ứng 0,30 và 0,47 điểm %. Với MBB, lợi thế hệ sinh thái đến từ khả năng kết nối chặt chẽ giữa ngân hàng, các công ty thành viên và nền tảng ngân hàng số, giúp mở rộng độ phủ dịch vụ tài chính tới cả khách hàng cá nhân lẫn doanh nghiệp, đặc biệt là các đối tác doanh nghiệp quân đội.
Việc sở hữu tệp khách hàng lớn, gắn bó lâu dài và sử dụng đa dạng sản phẩm giúp MBB duy trì tỷ lệ CASA cao, từ đó giúp tối ưu chi phí vốn. Bên cạnh đó, các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm và tài chính số đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu thu nhập, giúp lợi nhuận không còn phụ thuộc hoàn toàn vào tăng trưởng tín dụng.
Đối với TCB, hệ sinh thái thể hiện rõ ở chiến lược xây dựng nền tảng khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân có chất lượng cao, gắn liền với các giải pháp tài chính trọn gói thay vì chỉ cung cấp sản phẩm tín dụng đơn lẻ. Việc duy trì CASA ở mức cao trong nhiều năm liền giúp TCB có chi phí vốn thấp hơn mặt bằng chung. Đồng thời, hệ sinh thái dịch vụ xoay quanh thanh toán, ngân hàng số và các giải pháp tài chính cho chuỗi giá trị doanh nghiệp giúp TCB gia tăng thu nhập ngoài lãi và duy trì tăng trưởng lợi nhuận ổn định.
Sự khác biệt về hệ sinh thái cũng thể hiện rõ ngay trong nhóm ngân hàng quốc doanh, nơi CTG nổi lên là ngân hàng có mức tăng trưởng lợi nhuận vượt trội nhất. Trong khi VCB chỉ ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận 4% với NIM giảm 0,31 điểm %, CTG đạt mức tăng trưởng lợi nhuận lên tới 37% dù NIM cũng suy giảm 0,33 điểm %.
Điều này phản ánh lợi thế của CTG trong việc khai thác hệ sinh thái doanh nghiệp - bán lẻ kết hợp, đặc biệt là mạng lưới khách hàng doanh nghiệp lớn, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái thanh toán gắn với khu vực FDI và doanh nghiệp Nhà nước. Nhờ đó, CTG không chỉ duy trì tăng trưởng tín dụng tốt hơn mà còn gia tăng đáng kể thu nhập phí và dịch vụ, qua đó bù đắp hiệu quả cho sự suy giảm của NIM.
Tổng thể, kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng trong chu kỳ hiện tại cho thấy một sự phân hóa giữa những ngân hàng có hệ sinh thái lớn mạnh so với các ngân hàng còn lại. Những ngân hàng phụ thuộc lớn vào tín dụng bán lẻ truyền thống đang chịu áp lực kép từ biên lợi nhuận thu hẹp và cầu tín dụng yếu, khiến tăng trưởng lợi nhuận kém tích cực dù quy mô không nhỏ.
Ngược lại, các ngân hàng sở hữu hệ sinh thái khách hàng rộng khắp đã cho thấy khả năng thích ứng tốt hơn thông qua việc tối ưu chi phí vốn, gia tăng CASA và mở rộng các nguồn thu ngoài lãi.
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global