VCCI logo

LIÊN ĐOÀN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Vietnam Chamber of Commerce and Industry

Thứ 3, 03/03/2026 | English | Vietnamese

Trang chủDoanh nghiệpMỹ giảm thuế: 'Phép thử năng lực cạnh tranh thực của doanh nghiệp'

Mỹ giảm thuế: 'Phép thử năng lực cạnh tranh thực của doanh nghiệp'

10:30:00 AM GMT+7Thứ 3, 03/03/2026

Việc Mỹ hạ thuế nhập khẩu xuống 10% mở ra dư địa tích cực cho xuất khẩu Việt Nam trong ngắn hạn. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân (Đại học Kinh tế TP.HCM), khi mặt bằng thuế giữa các quốc gia dần được “cào bằng”, lợi thế tương đối mà Việt Nam từng hưởng nhờ chênh lệch thuế sẽ thu hẹp đáng kể. Thuế giảm vì thế không còn là lợi thế tuyệt đối, mà trở thành phép thử đối với năng lực cạnh tranh thực của doanh nghiệp và cấu trúc sản xuất trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Ngày 24/2 (giờ Mỹ), thuế đối ứng do Tổng thống Donald Trump áp lên hầu hết quốc gia đã bị vô hiệu trong 150 ngày theo Mục 122; sau thời hạn này, thuế sẽ hết hiệu lực nếu không được Quốc hội gia hạn. Thay vào đó, ông ký sắc lệnh áp thuế toàn cầu 10% theo Mục 122 của Đạo luật Thương mại 1974 và cho biết có thể nâng lên 15%.

Với Việt Nam, thuế nhập khẩu vào Mỹ giảm từ 20% xuống 10% từ ngày 24/2, giúp nhiều ngành hưởng lợi tạm thời. Tuy nhiên, khi lợi thế thuế theo IEEPA – từng thấp hơn một số đối thủ như Trung Quốc – bị xóa bỏ, hàng xuất khẩu Việt Nam có thể đối mặt cạnh tranh lớn hơn.

Trước đó, thuế đối ứng 20% với hàng Việt được áp theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) nhưng đã dừng thu sau phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ. Hiện Mỹ áp thuế toàn cầu 10% theo Mục 122 và có thể nâng lên 15%, dù chưa chính thức triển khai.

Bên cạnh đó, Mỹ vẫn duy trì thuế theo Điều 232 (25% với thép, nhôm, đồng, gỗ xẻ, ôtô và phụ tùng) và Điều 301 – chủ yếu áp với hàng Trung Quốc. Việt Nam cũng chịu các mức thuế cơ bản theo biểu thuế HTS và MFN.

Xung quanh vấn đề này, Tạp chí Đầu tư Tài chính có cuộc trò chuyện với PGS.TS Nguyễn Hữu Huân (Đại học Kinh tế TP. HCM).

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân (Đại học Kinh tế TP. HCM).

Hàng Việt Nam được hưởng một “lợi thế tương đối” khá lớn

- Ông đánh giá thế nào về tác động của việc thuế nhập khẩu vào Mỹ với hàng Việt giảm từ khoảng 20% xuống 10–15%?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Việc thuế nhập khẩu vào Mỹ với hàng Việt giảm từ khoảng 20% xuống 10–15% là tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế, lợi thế chỉ có ý nghĩa khi đặt trong tương quan với đối thủ. Khi Mỹ điều chỉnh thuế trong tổng thể tái cấu trúc chính sách – đặc biệt liên quan đến Trung Quốc – tác động thực tế trở nên phức tạp hơn kỳ vọng.

Trước đây, thuế cao với hàng Trung Quốc buộc doanh nghiệp Mỹ đa dạng hóa nguồn cung, giúp Việt Nam hưởng “lợi thế tương đối” nhờ chênh lệch thuế. Nhưng khi khoảng cách thuế giữa các nước thu hẹp, lợi thế này giảm đi. Những nền sản xuất quy mô lớn, chuỗi cung ứng sâu và năng suất cao như Trung Quốc có thể phục hồi nhanh hơn, nhất là trong các ngành Việt Nam cạnh tranh trực tiếp như điện tử, nội thất, máy móc nhẹ, dệt may trung cấp.

Khi chênh lệch thuế không còn đáng kể, các yếu tố như quy mô, logistics, tốc độ giao hàng và độ ổn định nguồn cung lại nghiêng về phía Trung Quốc. Nghịch lý có thể xảy ra: thuế Việt Nam giảm nhưng thị phần không tăng tương ứng, thậm chí chịu sức ép lớn hơn.

Ngoài ra, vai trò trung chuyển qua Việt Nam có thể suy giảm khi Mỹ điều chỉnh thuế với nhiều đối tác, đồng thời siết quy tắc xuất xứ. Với tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, doanh nghiệp Việt có thể đối mặt chi phí tuân thủ cao hơn và lợi thế thực giảm bớt.

Vì vậy, thuế giảm không phải lợi thế tuyệt đối mà là một biến số trong bức tranh cạnh tranh toàn cầu. Nếu các đối thủ được “bình thường hóa” mạnh hơn, họ có thể giành lại thị phần nhanh nhờ quy mô và năng suất. Khi đó, thuế giảm vừa là cơ hội, vừa là phép thử đối với năng lực cạnh tranh thực của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

- Mức giảm này sẽ tác động ra sao đến chi phí và biên lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Việc thuế nhập khẩu vào Mỹ giảm từ khoảng 20% xuống 10 – 15% về bản chất là một cú giảm chi phí “ngoại sinh” trong cấu trúc giá hàng xuất khẩu Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp hưởng lợi bao nhiêu còn phụ thuộc vào việc phần giảm thuế được phân chia thế nào trong đàm phán giữa nhà nhập khẩu Mỹ và nhà xuất khẩu Việt Nam.

Trong các ngành như dệt may, gỗ, da giày, điện tử gia dụng – nơi doanh nghiệp Việt chủ yếu làm OEM/ODM – giá bán chịu sức ép lớn từ nhà mua hàng. Khi thuế giảm, nhà nhập khẩu thường yêu cầu chia sẻ lợi ích bằng cách ép giảm giá FOB, nên phần tiết kiệm thuế không hoàn toàn chuyển thành lợi nhuận cho doanh nghiệp Việt. Mức cải thiện biên lợi nhuận vì vậy phụ thuộc vào sức mạnh thương lượng và mức độ khác biệt sản phẩm.

Dù phải chia sẻ, doanh nghiệp vẫn có thể cải thiện lợi nhuận ở một mức nhất định. Thuế thấp hơn làm giảm “landed cost”, tạo dư địa giá để hai bên phân bổ lợi ích; với mức giảm 5 – 10 điểm phần trăm, biên lợi nhuận ròng có thể tăng thêm vài điểm nếu giá bán tương đối ổn định. Quan trọng hơn, thuế giảm có thể giúp tăng hoặc ổn định đơn hàng, nâng công suất sử dụng và giảm chi phí cố định trên mỗi sản phẩm – hiệu ứng quy mô này đôi khi lớn hơn lợi ích thuế trực tiếp.

Tuy nhiên, lợi ích không đồng đều. Doanh nghiệp có tỷ lệ nội địa hóa cao, kiểm soát tốt nguyên liệu và logistics sẽ giữ lại được nhiều hơn. Ngược lại, doanh nghiệp phụ thuộc nhập khẩu hoặc chịu yêu cầu xuất xứ chặt hơn có thể bị tăng chi phí, làm giảm phần lợi nhuận thuần. Khi thuế giữa các nguồn cung trở nên đồng đều, cạnh tranh giá cũng mạnh lên, khiến lợi ích thuế ban đầu dần bị bào mòn.

Tóm lại, thuế giảm tạo dư địa cải thiện biên lợi nhuận trong ngắn hạn, nhưng mức hưởng lợi thực tế phụ thuộc vào sức mạnh thương lượng, cấu trúc chi phí và năng lực chuỗi cung ứng. Về dài hạn, doanh nghiệp vẫn phải dựa vào năng suất, nội địa hóa và khác biệt sản phẩm thay vì ưu đãi thuế.

- Nếu Mỹ áp dụng mức thuế tương tự cho nhiều quốc gia, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam sẽ thay đổi thế nào, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Nếu Mỹ áp dụng mặt bằng thuế tương tự cho nhiều quốc gia, thu hẹp chênh lệch giữa các nguồn cung, lợi thế của Việt Nam sẽ chuyển từ “lợi thế thuế quan” sang “lợi thế cấu trúc”.

Khi thuế không còn tạo khoảng cách, doanh nghiệp Mỹ sẽ lựa chọn nhà cung ứng dựa trên chi phí thực, quy mô công nghiệp, độ sâu chuỗi cung ứng, năng suất, logistics và độ ổn định giao hàng. Khi đó, vị thế của Việt Nam sẽ bớt thuận lợi hơn so với giai đoạn từng hưởng lợi từ chênh lệch thuế với Trung Quốc.

Trước đây, một phần tăng trưởng xuất khẩu sang Mỹ đến từ việc hàng Trung Quốc chịu thuế cao. Khi thuế được “cào bằng”, cạnh tranh trở lại bản chất năng lực sản xuất. Trung Quốc, với hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh và quy mô lớn, có thể giành lại đơn hàng ở các ngành Việt Nam chưa có chuỗi cung ứng sâu như điện tử, máy móc nhẹ. Tuy nhiên, tác động không đồng đều: các lĩnh vực Việt Nam đã có vị thế tương đối độc lập như đồ gỗ, một số phân khúc dệt may trung cấp hay đơn hàng linh hoạt vẫn giữ được lợi thế nhất định, trong khi ngành phụ thuộc nhập khẩu linh kiện sẽ chịu sức ép lớn hơn.

Việc bình quân hóa thuế cũng có thể làm chậm dịch chuyển chuỗi cung ứng, vì động cơ rời các trung tâm sản xuất lớn giảm đi. Khi đó, Việt Nam phải cạnh tranh trực diện bằng hạ tầng, kỹ năng lao động và độ sâu công nghiệp thay vì ưu thế thuế. Về dài hạn, đây là phép thử năng lực thực: lợi thế tương đối sẽ thu hẹp, buộc cạnh tranh quay về nền tảng năng suất và cấu trúc công nghiệp, dù không làm Việt Nam mất lợi thế tuyệt đối.

Nếu Mỹ áp dụng mặt bằng thuế tương tự cho nhiều quốc gia, thu hẹp chênh lệch giữa các nguồn cung, lợi thế của Việt Nam sẽ chuyển từ “lợi thế thuế quan” sang “lợi thế cấu trúc”.

Động lực cho FDI dịch chuyển đơn hàng

- Vậy, việc giảm thuế có thúc đẩy thêm FDI và dịch chuyển đơn hàng vào Việt Nam không, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Việc thuế nhập khẩu vào Mỹ giảm với hàng Việt Nam chắc chắn tạo thêm động lực cho FDI và dịch chuyển đơn hàng, nhưng mức độ và độ bền phụ thuộc vào tương quan thuế giữa các quốc gia. Nếu Mỹ đồng thời điều chỉnh thuế theo hướng tương tự với nhiều nước, lợi thế tương đối của Việt Nam sẽ không còn mạnh như giai đoạn chênh lệch lớn với Trung Quốc.

Với các tập đoàn đa quốc gia, quyết định đặt nhà máy không chỉ dựa vào chi phí sản xuất mà còn vào “chi phí vào thị trường”. Khi thuế vào Mỹ giảm từ khoảng 20% xuống 10–15%, Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn cho các ngành hướng Mỹ như gỗ, dệt may, điện tử, gia dụng, qua đó cải thiện suất sinh lợi kỳ vọng. Tuy nhiên, nếu chênh lệch thuế giữa các nguồn cung thu hẹp, FDI sẽ quay lại phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố nền tảng như quy mô thị trường, độ sâu công nghiệp, năng suất và logistics – những điểm Việt Nam còn chưa vượt trội. Vì vậy, thuế giảm vẫn thúc đẩy FDI, nhưng khó tạo làn sóng mạnh như trước.

Cần phân biệt FDI “tái định vị chuỗi cung ứng” – nhạy cảm với thuế và dễ dịch chuyển – với FDI gắn thị trường nội địa hay công nghệ cao có tính ổn định hơn. Giảm thuế chủ yếu kích thích loại thứ nhất, nên độ bền không cao nếu lợi thế thuế suy giảm.

Về đơn hàng, tác động thường nhanh hơn vì không cần đầu tư mới. Thuế giảm giúp tăng tỷ trọng đặt hàng từ Việt Nam, nhưng nếu các đối thủ như Trung Quốc hay Mexico có mức thuế tương tự, phân bổ đơn hàng sẽ dựa vào năng lực sản xuất và độ tin cậy chuỗi cung ứng. Việt Nam có thể tăng đơn ở các ngành đã có vị thế, song khó bứt phá ở lĩnh vực chuỗi cung ứng còn nông.

Tóm lại, thuế giảm vẫn thúc đẩy FDI và đơn hàng nhờ tăng sức hấp dẫn thương mại, nhưng hiệu ứng mang tính tương đối và ngày càng phụ thuộc vào năng lực công nghiệp thực thay vì ưu đãi thuế.

-  Theo ông, doanh nghiệp và Chính phủ cần làm gì để giữ vững thị phần khi lợi thế thuế quan bị thu hẹp?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Khi lợi thế thuế quan thu hẹp, cạnh tranh sẽ trở về bản chất: năng lực sản xuất, độ sâu chuỗi cung ứng và khả năng tạo giá trị. Để giữ thị phần tại các thị trường lớn như Mỹ, doanh nghiệp và Chính phủ cần chuyển từ “tận dụng ưu đãi” sang “nâng cấp năng lực”, coi đây là quá trình tái cấu trúc dài hạn của toàn bộ khu vực xuất khẩu.

Với doanh nghiệp, trọng tâm là thoát khỏi mô hình cạnh tranh bằng chi phí. Khi thuế không còn tạo khác biệt, nhà mua hàng sẽ ưu tiên độ tin cậy giao hàng, chất lượng ổn định, khả năng phát triển sản phẩm và tốc độ đáp ứng. Vì vậy, doanh nghiệp phải đầu tư công nghệ, tự động hóa, quản trị chất lượng và tham gia sâu hơn vào thiết kế, vật liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật, dịch vụ sau sản xuất để giữ phần giá trị cao hơn trong chuỗi.

Đồng thời, nâng tỷ lệ nội địa hóa và kiểm soát chuỗi cung ứng là yếu tố then chốt. Khi thuế giảm vai trò, chi phí logistics, thời gian giao hàng và độ ổn định nguyên liệu trở thành lợi thế cạnh tranh lớn. Phát triển mạng lưới nhà cung ứng trong nước, liên kết cụm ngành và tăng kết nối giữa FDI với doanh nghiệp nội địa sẽ giúp giữ thị phần bền vững hơn là chỉ dựa vào giá.

Ở cấp độ Chính phủ, trọng tâm không chỉ là đàm phán thuế mà là cải thiện hạ tầng, logistics, năng lượng, đất công nghiệp, thủ tục và ổn định chính sách. Khi thuế bị bình quân hóa, quốc gia phải cạnh tranh bằng chất lượng hệ sinh thái sản xuất. Song song, cần thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, phát triển nguyên liệu – linh kiện trong nước và hỗ trợ đổi mới công nghệ, tự động hóa, chuyển đổi số để nâng năng suất.

Về thị trường, doanh nghiệp nên chuyển từ cạnh tranh đại trà sang tập trung vào phân khúc có năng lực đặc thù như sản phẩm thiết kế riêng, đơn hàng linh hoạt, tiêu chuẩn bền vững và chuỗi cung ứng nhanh.

Tóm lại, khi lợi thế thuế quan giảm, giữ thị phần đồng nghĩa với chuyển từ “giá rẻ nhờ thuế” sang “giá trị nhờ năng lực”, thông qua nâng cấp công nghệ, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái sản xuất, thay vì phụ thuộc vào ưu đãi thuế.

Trân trọng cảm ơn ông!

TheoKỳ Thư (Tạp chí điện tử Đầu tư Tài chính)
Copy link

Văn bản pháp luật

Liên kết

Website nội bộ của VCCI

Footer logo

Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI 

  Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam

Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023

Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI

Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI
Văn Phòng - Lễ tân:  Phụ trách website: Liên hệ quảng cáo:
📞 + 84-24-35742022 📞 + 84-24-35743084 📞 + 84-24-35743084
 + 84-24-35742020   vcci@vcci.com.vn   

Truy cập phiên bản website cũ.                                                     Thiết kế và phát triển bởi ADT Global