Thứ 6, 15/05/2026 | English | Vietnamese
08:54:00 AM GMT+7Thứ 6, 15/05/2026
Sau gần một năm triển khai Nghị quyết 68, bức tranh doanh nghiệp cho thấy nhiều thách thức khi tốc độ gia nhập thị trường không đủ bù số rút lui. Điều này khiến mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 đứng trước áp lực lớn.
Tại tọa đàm “Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68”, các chuyên gia cho rằng sau gần một năm triển khai nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, điều cần thiết hiện nay là nhìn nhận hiệu quả thực thi bằng những kết quả thực chất, thay vì chỉ dừng ở các tín hiệu tích cực hay báo cáo mang tính hình thức.
TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), nhận định việc đánh giá hiệu quả triển khai các nghị quyết liên quan đến kinh tế tư nhân là vấn đề “khó nói”, bởi thực tế đang tồn tại cả những điểm sáng lẫn nhiều dấu hiệu đáng lo ngại.
Theo ông, khi Nghị quyết 68 được ban hành, cộng đồng doanh nghiệp đã đặt nhiều kỳ vọng, xem đây là bước mở ra một giai đoạn phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, để đánh giá hiệu quả chính sách cần dựa trên các chỉ tiêu cụ thể.
“Mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp là mục tiêu rất rõ ràng và hoàn toàn có thể đo lường được”, ông nói.
Hiện Việt Nam mới có khoảng 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Điều đó đồng nghĩa từ nay đến năm 2030 cần bổ sung thêm khoảng 1 triệu doanh nghiệp nữa, tương đương mỗi năm phải tăng thêm khoảng 200.000 doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Đình Cung, diễn biến thực tế lại đang đi ngược kỳ vọng. Tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại thị trường so với số doanh nghiệp rút lui đang giảm dần qua các giai đoạn. Nếu như trước đây cứ một doanh nghiệp rời thị trường có nhiều doanh nghiệp mới tham gia thay thế, thì giai đoạn 2016 - 2020 tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 2:1. Từ năm 2021 đến nay, tỷ lệ gần như chỉ còn xấp xỉ 1:1.
“Nếu xu hướng này tiếp diễn thì gần như không thể đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030”, ông cảnh báo.
Ông Cung cũng cho rằng thực tế này chưa được nhìn nhận đầy đủ. Truyền thông thường nhấn mạnh số lượng doanh nghiệp thành lập mới với những cụm từ như “bùng nổ”, trong khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng tăng mạnh nhưng ít được đề cập.
“Tôi không thấy có cơ quan nào thực sự chịu trách nhiệm theo dõi mục tiêu này một cách nghiêm túc”, ông nói và nhấn mạnh đây là chỉ tiêu hoàn toàn có thể giám sát rõ ràng.
Đồng quan điểm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho biết sau Nghị quyết 68, hàng loạt nghị quyết, văn bản và quy định pháp luật đã được ban hành nhằm tháo gỡ vướng mắc cho khu vực kinh tế tư nhân.
“Ngay sau Nghị quyết 68 là nhiều nghị quyết khác của Quốc hội và Chính phủ được đưa ra để xử lý các điểm nghẽn trong thực thi chính sách, tháo gỡ vướng mắc pháp lý và điều chỉnh nhiều quy định theo hướng thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Đây là tác động lớn nhất mà Nghị quyết 68 mang lại thời gian qua”, ông nói.
Tuy vậy, theo ông Bình, dòng vốn đầu tư tư nhân hiện chủ yếu tập trung vào nhóm doanh nghiệp lớn. Hàng loạt dự án quy mô hàng trăm nghìn tỷ, thậm chí hàng triệu tỷ đồng liên tiếp xuất hiện cho thấy các tập đoàn lớn đang mở rộng đầu tư mạnh mẽ. Trong khi đó, hiệu ứng lan tỏa tới nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vẫn còn khá hạn chế.
Ông cũng cho rằng mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp sẽ khó đạt được nếu Việt Nam không thay đổi căn bản tư duy về mô hình doanh nghiệp.
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, ông cho biết tại Singapore, khoảng 50% doanh nghiệp đăng ký mới mỗi năm là doanh nghiệp một chủ; tại Pháp tỷ lệ này lên tới 70%, còn ở nhiều nước phát triển dao động từ 50 - 70%. Trong khi đó, tại Việt Nam, trong số khoảng 100.000 - 200.000 doanh nghiệp đăng ký mới mỗi năm, chỉ khoảng 2.000 - 4.000 doanh nghiệp hoạt động theo mô hình một chủ.
Theo ông Bình, doanh nghiệp một chủ là mô hình phù hợp cho cá nhân khởi nghiệp, thử nghiệm ý tưởng kinh doanh với chi phí thấp và thủ tục đơn giản. Khi phát triển ổn định, các chủ thể này có thể chuyển đổi lên mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Tuy nhiên, Việt Nam hiện chưa có nền tảng pháp lý phù hợp để hỗ trợ hiệu quả mô hình này.
Ở góc độ thực thi chính sách, ông Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban IV, đánh giá nỗ lực thể chế hóa sau Nghị quyết 68 là rất đáng ghi nhận. Chính phủ và Quốc hội đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh cũng như đào tạo đội ngũ doanh nhân.
Ông đặc biệt nhắc tới các chương trình phát triển doanh nghiệp tiên phong và đào tạo CEO như một phần trong chiến lược xây dựng lực lượng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao hơn cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, theo ông Minh, nhiều chính sách quan trọng vẫn triển khai chậm. Các cơ chế hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi mô hình hay gói hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp đầu tư xanh và đổi mới công nghệ đến nay vẫn chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng.
Trong bối cảnh đó, áp lực từ thương mại quốc tế, đặc biệt các yêu cầu về chuyển đổi xanh và phát triển bền vững, đang tạo sức ép ngày càng lớn lên cộng đồng doanh nghiệp.
Ông Minh dẫn số liệu cho thấy trong ba tháng đầu năm, trung bình mỗi tháng có khoảng 32.000 doanh nghiệp đăng ký mới và quay trở lại hoạt động, nhưng đồng thời cũng có khoảng 30.400 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
“Như vậy mỗi tháng nền kinh tế chỉ tăng ròng khoảng 1.600 doanh nghiệp. Với tốc độ này thì rất khó đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030”, ông nhận định.
Theo ông, nếu không có thay đổi mang tính tổng thể trong cách tiếp cận và xây dựng môi trường kinh doanh, số lượng doanh nghiệp không chỉ khó tăng mạnh mà còn có nguy cơ suy giảm.
Ông cũng lưu ý hiệu ứng tích cực từ Nghị quyết 68 đang lan tỏa không đồng đều. Nếu như ban đầu cộng đồng doanh nghiệp khá hào hứng thì theo thời gian, tâm lý tích cực đã giảm dần.
“Doanh nghiệp lớn hiện vui nhiều hơn doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn khu vực hộ kinh doanh vẫn chưa cảm nhận rõ lợi ích”, ông nói.
Theo khảo sát của Ban IV, cứ 10 doanh nghiệp thì có khoảng 7 doanh nghiệp vẫn giữ tâm lý thận trọng hoặc tiêu cực về triển vọng kinh doanh.
Ông cho rằng cải cách chỉ thực sự có ý nghĩa khi tác động tới nhóm doanh nghiệp ở phía dưới, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ tạo thuận lợi cho một nhóm doanh nghiệp lớn.
“Nếu cải cách không đi vào đời sống thực tế của doanh nghiệp, không giúp giảm chi phí tuân thủ thì sẽ không tạo được niềm tin”, ông nhấn mạnh.
Theo ông Minh, Ban IV hiện cũng đang chuẩn bị một báo cáo với chủ đề “vực dậy niềm tin”, trong bối cảnh niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đang suy giảm đáng kể.
Website nội bộ của VCCI
Liên kết nhanh
Bản quyền bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Tòa VCCI, Số 9 Đào Duy Anh, Kim Liên, Hà Nội, Việt Nam
Giấy phép xuất bản số 190/GP-TTĐT cấp ngày 27/10/2023
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI
| Quản lý và vận hành: Trung tâm Truyền thông và Thông tin Kinh tế - VCCI | ||
| Văn Phòng - Lễ tân: | Phụ trách website: | Liên hệ quảng cáo: |
| 📞 + 84-24-35742022 | 📞 + 84-24-35743084 | 📞 + 84-24-35743084 |
| + 84-24-35742020 | vcci@vcci.com.vn | |
Truy cập phiên bản website cũ. Thiết kế và phát triển bởi ADT Global